Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN NAM

TỈNH NINH THUẬN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thanh Yên.

Bà Phan Thị Hải Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận

Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện

Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận; Điểm cầu thành phần là Phân trại tam giam khu vực T, phòng PC 11, Công an tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Não Phước Tài Đ, sinh ngày: 15/8/1982, tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi đăng ký HKTT: Thôn V, xã P, huyện T; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bà N; quốc tịch: Việt Nam; con ông Não văn S, sinh năm 1952 và bà Báo Thị N1, sinh năm 1957, vợ tên Đạt Nữ Phương T (đã ly hôn); bị cáo có 03 người con, sinh năm 2000, năm 2006 và năm 2010.

- Tiền án: Ngày 10/3/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST; Ngày 09/6/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST. Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 05 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2024, chưa được xóa an tích

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/12/2024, tạm giam từ ngày 15/12/2024, hiện đang tạm giam phân trại tạm giam khu vực T, phòng PC 11, Công an tỉnh N – Có mặt tại phiên tòa

2. Dương Thanh Q, sinh ngày 05/8/1994, tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi đăng ký HKTT: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bà ni; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Thanh S1, sinh năm 1969 và bà Thị L, sinh năm 1971; Bị cáo chưa có vợ con;

- Tiền án:

  • + Ngày 23/6/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 38/2015/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2018.
  • + Ngày 10/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2022. Căn cứ khoản 2 Điều 73, điểm c khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự, bị cáo chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 10/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án hinh sự sơ thẩm số 27/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2022, đã xóa án tích.
  • + Ngày 13/01/2025, bị cáo Dương Thanh Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 06/12/2024, tạm giam từ ngày 15/12/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, Phòng PC 11, Công an tỉnh N (có mặt tại phiên tòa).

3. Châu Văn T1, sinh ngày: 20/8/1992, tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi đăng ký HKTT: Thôn V, xã P, huyện T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bà N; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn T2, sinh năm 1973 và bà Châu Thị H, sinh năm 1973, bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/8/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2016, đã xóa án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/12/2024, tạm giam từ ngày 14/12/2024, hiện đang tạm giam phân trại tạm giam khu vực T, phòng PC 11, Công an tỉnh N – Có mặt tại phiên tòa

- Bị hại: Công ty Cổ phần P;

Địa chỉ: Số F, đường L, khu đô thị A, tổ dân phố số C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Xuân T3 – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Ngọc L1, sinh ngày 19/3/1980, địa chỉ: C, Chung cư D V, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội (vắng mặt – Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Báo Nữ Thái L2, sinh ngày 26/12/1988, địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

- Những người làm chứng:

  • + Ông Đào Thanh T4, sinh ngày 20/01/1987, địa chỉ: Khu phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  • + Ông Dương Xuân N2, sinh ngày 19/02/1973, địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Dương Thanh Q, Não Phước Tài Đ và Châu Văn T1 có quan hệ bạn bè xã hội. Đ làm thuê cho Công ty cổ phần P, đang thi công dự án nhà máy sản xuất đồ chơi trẻ em của Công ty trách nhiệm hữu hạn I ở khu công nghiệp P thuộc thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Tối ngày 05/12/2024, Q, Đ và T1 cùng uống bia tại thôn V, xã P. Trong lúc nhậu, Đ kể chuyện đang làm công nhân thi công nhà xưởng may Gấu bông tại khu công nghiệp P, tại công trường có nhiều dây điện nên rủ cả nhóm đi cắt trộm bán lấy tiền tiêu xài, cả nhóm đồng ý. Q chuẩn bị 01 kìm cộng lực, 01 dao rọc giấy màu vàng để làm công cụ phạm tội. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô kiểu dáng wave gắn biển kiểm soát 85N1-9088, Đ điều khiển xa cub gắn biển kiểm soát 85EA-002.87 chở T1 ngồi sau cầm kìm cộng lực, đi theo đường mòn đến khu vực gần khu công nghiệp P để cất giấu xe. Sau đó, cả nhóm đi bộ theo đường mòn đến đoạn mở hàng rào vào khu công nghiệp. Khi đến công trường thi công nhà xưởng thứ 2 (ở giữa), T1 đứng ngoài cảnh giới, Đ và Q vào bên trong, Đ chỉ vị trí cho Q biết để cắt trộm để đưa ra ngoài cho T1 giữ, Đ đứng cảnh giới. Q cầm kìm cộng lực cắt 12 sợi dây điện, đưa ra cho T1. Khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, khi nhóm của Q đang cắt dây điện thì bị ông Dương Xuân N2 và ông Đào Thanh T4 là bảo vệ công ty phát hiện bắt quả tang Não Phước T5 Đạt cùng vật chứng gồm 01 con dao, 04 đọan dây điện và báo Công an huyện T. Riêng Dương Thanh Q, Châu Văn T1 cầm kìm cộng lực và 08 đoạn dây điện đã trộm cắp bỏ chạy đến nơi cất giấu xe ban đầu. Q cầm kìm cộng lực cất 08 đoạn dây điện thành 25 đoạn, dùng xe mô tô của Q chở T1 về lại nhà Q. Sáng ngày 06/12/2024, Q mang 25 đoạn dây cáp tới điện tới khu vực rẫy cất giấu. Sau đó, Q cùng T1 đi đến khu vực hòn đá Chim đẩy xe mô tô biển kiểm soát 85EA-002.87 của Đ về thì bị lực lượng Công an phát hiện, mời làm việc. Châu Văn T1 bỏ chạy, đến ngày 11/12/2024 thì T1 lên Công an huyện T đầu thú. Ngày 06/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra yêu cầu định giá đối với 04 đoạn dây điện thu giữ được khi bắt quả tang Não Phước Tài Đ. Tại Bản Kết luận định giá tài sản số A, ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận 04 đoạn cáp điện cho Đ, Q, T1 trộm cắp là 2.778.914 đồng (hai triệu, bảy trăm bảy mươi tám nghìn, chín trăm mười bốn đồng). Ngày 30/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra yêu cầu định giá tài sản đối với 25 đoạn dây điện truy tìm được tại thôn P (số dây điện Dương Thanh Q cất giấu). Kết luận định giá tài sản số 03, ngày 22/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận 25 đoạn dây cáp điện do Đ, Q, T1 trộm cắp là 4.122.095đ (bốn triệu, một trăm hai mươi hai nghìn, không trăm chín mươi lăm đồng). Như vậy, tổng giá trị các bị cáo chiếm đoạt là 6.901.009₫ (sáu triệu, chín trăm lẻ một nghìn, không trăm lẻ chín đồng).

*Đồ vật, tài sản thu giữ; xử lý vật chứng:

  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tạm giữ và trả lại cho đại diện của Công ty cổ phần P 29 đoạn dây cáp điện. Tạm giữ, trả lại cho bà Não Nữ Thái L3, sinh năm 1988, trú tại thôn V, xã P, huyện T 01 xe mô tô biển kiểm soát 85EA-002.87.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tạm giữ 01 xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh biển kiểm sát 85N1-90088 của Dương Thanh Q.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ 01 (một) con dao dài 23cm, rộng 4,5cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng kích thước (10x02)cm; 01 (một) cây kìm cộng lực dài 60cm, phần cán màu xanh dài 47cm, tay cầm bộc cao su màu đen dài 13cm, lưỡi kìm bằng kim loại trắng kích thước (13x08)cm.

Về dân sự: Đại diện Công ty cổ phần P do ông Bùi Ngọc L1 đại diện đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSTN ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố các bị cáo Não Phước Tài Đ, Dương Thanh Q và Châu Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Não Phước Tài Đ từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Dương Thanh Q từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Châu Văn T1 từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
  4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự:
    • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh gắn biển kiểm soát 85N1-9088;
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 23cm, rộng 4,5cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng kích thước (10x02)cm; 01 (một) cây kìm cộng lực dài 60cm, phần cán màu xanh dài 47cm, tay cầm bộc cao su màu đen dài 13cm, lưỡi kìm bằng kim loại trắng kích thước (13x08)cm.

Các bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Đại diện bị hại ông Bùi Ngọc L1 vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Đối với những người làm chứng ông Dương Xuân N2 và ông Đào Thanh T4 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, những người này đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án, do đó việc họ vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử các bị cáo nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Xác định tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa các bị cáo Não Phước Tài Đ, Dương Thanh Q và Châu Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể như sau: Để có tiền tiêu xài nên khoảng 23 giờ 50 phút, ngày 05/12/2024, tại khu công nghiệp P thuộc thôn V, xã P, huyện T, Não Phước Tài Đ, Dương Thanh Q, Châu Văn T1 đã lén lút cắt trộm 12 đoạn dây điện của Công ty cổ phần P, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 6.901.009₫ (sáu triệu, chín trăm lẻ một nghìn, không trăm lẻ chín đồng).

Xét thấy, lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng, với biên bản phạm tội qua tang và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập khách quan thể hiện trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam đã truy tố các bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4]. Xác định nguyên nhân lỗi, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vị phạm tội: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ nhu cầu cá nhân vì muốn có tiền tiêu xài, không nhằm mục đích làm nguồn sống; hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, tội phạm được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng với khung hình phạt cao nhất đến 03 năm tù.

[5]. Về đánh giá vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Đ là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê và là người chỉ cho Q vị trí cắt trộm dây điện; Q là người trực tiếp cầm kìm thực hiện hành vi cắt trộm dây điện; còn T1 tham gia với vai trò giúp sức, là người cảnh giới nên hình phạt khi quyết định với Đ và Q sẽ cao hơn T1.

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Đối với bị cáo Não Phước T5 Đạt có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị cáo Đ phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Đối với bị cáo Dương Thanh Q: Ngày 23/6/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích; Ngày 10/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2022. Mặc dù kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tôi lần này là hơn 02 năm, tuy nhiên căn cứ theo khoản 2 Điều 73, điểm c khoản 1 Điều 70 Bộ luật hình sự thì bị cáo Q chưa được xóa án tích, vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Đối với bị cáo Châu Văn T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Não Phước Tài Đ, Dương Thanh Q và Châu Văn T1 đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Ngoài ra bị cáo Châu Văn T1 tự nguyện ra Cơ quan Công an đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8]. Quyết định hình phạt, mức hình phạt đối với các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cả ba bị cáo đều đã từng bị kết án về tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản nay lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ các bị cáo không ăn hối cải. Với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty cổ phần P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về việc xử lý vật chứng:

  • - Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 85EA-002.87 là chiếc xe của chị Não Nữ Thái L3 cho bị cáo Đ mượn. Chị L3 không biết Đ sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà L3 là có căn cứ nên không xem xét.
  • - Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 85N1-9088 là chiếc xe Dương Thanh Q dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước là có căn cứ.
  • - Đối 01 (một) con dao dài 23cm, rộng 4,5cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng kích thước (10x02)cm và 01 (một) cây kìm cộng lực dài 60cm, phần cán màu xanh dài 47cm, tay cầm bộc cao su màu đen dài 13cm, lưỡi kìm bằng kim loại trắng kích thước (13x08)cm, là công cụ phượng tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[11]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
  2. Tuyên bố: Bị cáo Não Phước Tài Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    Xử phạt: Bị cáo Não Phước T5 Đạt 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 06/12/2024).

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
  4. Tuyên bố: Bị cáo Dương Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    Xử phạt: Bị cáo Dương Thanh Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 06/12/2024).

  5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
  6. Tuyên bố: Bị cáo Châu Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    Xử phạt: Bị cáo Châu Văn T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 11/12/2024).

  7. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    * Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:

    • - 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh gắn biển kiểm soát 85N1-9088, số khung: RMSWCHBHG8HO27629, số máy: VHGSL152FMHO27629.

    * Tịch thu tiêu hủy:

    • + 01 (một) con dao (loại dao rọc giấy) dài 23cm, rộng 4,5cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng kích thước (10x02)cm;
    • + 01 (một) cây kìm cộng lực dài 60cm, phần cán màu xanh dài 47cm, tay cầm bộc cao su màu đen dài 13cm, lưỡi kìm bằng kim loại trắng kích thước (13x08)cm.

    Toàn bộ vật chứng hiện đang bảo quản tại kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, theo phiếu nhập kho số PNK2025/19 ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

  8. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  9. Buộc các bị cáo Não Phước Tài Đ, Dương Thanh Q, Châu Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  10. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Nam;
  • - Phòng NVHS CA tỉnh Ninh Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Nam;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Khánh Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Não Phước Tài Đ phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger