Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hữu Nghĩa;
  2. Ông Phan Văn Thà.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Xuân Cường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thành Lang, ông Lê Đăng K - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1994 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: có 03 tiền án:

Tại Bản án số 42/2013/HSST ngày 27/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2014, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 28/6/2017, chưa được xóa án tích;

Tại Bản án số 12/2016/HSST ngày 17/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 194, điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 09 (chín) năm tù

về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/6/2014. Tại Bản án số 78/2016/HSST ngày 06/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138, điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã nộp án phí sơ thẩm ngày 24/4/2016. Tại Quyết định Tổng hợp hình phạt số 04/2016/QĐ-CA ngày 11/5/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/5/2024. Bị cáo chưa được xóa án tích;

Nhân thân: tại Bản án số 08/2012/HSST ngày 16/01/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 68, 69, 74 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/5/2014, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/8/2012, được coi là không có án tích;

Tại Quyết định số 246/2011/QĐXPVPHC ngày 07/6/2011 của Công an thị trấn H, huyện H, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Hoàng N số tiền 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2024 chuyển tạm giam từ ngày 03/11/2024 cho đến nay, có mặt.

2. Giáp Minh T1, sinh ngày 30 tháng 6 năm 1998 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giáp Thanh S và bà Đới Thị N2; bị cáo có vợ tên Trần Thị Trúc P và 01 người con; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2024 chuyển tạm giam từ ngày 03/11/2024 cho đến nay, có mặt.

Bị hại:

Ông Hồ Minh T2, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 30/10/2024, Giáp Minh T1 rủ Nguyễn Hoàng N đến địa bàn huyện T, tỉnh Tây Ninh để trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, N đồng ý. Nguyên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, biển số: 70G1-878.67 của bà Nguyễn Thị N1 (mẹ ruột của bị cáo N) chở T1 đi từ nơi ở của N thuộc khu phố H, phường H, thị xã H, Tây Ninh đến huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, khi N chở T1 đi ngang nhà ông Hồ Minh T2, T1 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển số: 70H1- 240.55 để trước hiên nhà. T1 nói cho N biết và kêu N quay lại. Khi quay lại đến trước nhà ông T2 thì dừng xe lại để T1 đi vào lấy trộm xe, N ở ngoài đường cảnh giới. Khi T1 vào

nhà ông T2, thấy trên xe có sẵn chìa khóa, T1 nổ máy xe chạy đi tìm chỗ để bán. Nguyên chạy xe mô tô biển số: 70G1-878.67 về nhà chờ T1. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, T1 không tìm được chỗ bán xe nên điều khiển xe mô tô biển số: 70H1- 240.55 quay lại nhà của N thì bị Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh phát hiện cùng tang vật.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

Kết quả định giá tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 42/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển số: 70H1- 240.55, số máy: 5C6J-152200, số khung: RLCS5C6J0FY152199 trị giá: 7.500.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: 01 (Một) cây kiềm, dài 12 cm, cán bọc nhựa màu trắng xanh và có dòng chữ SENKA (đã qua sử dụng); 01 (Một) nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng có viền sọc đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) áo sơ mi nam giới, tay dài, màu trắng, mặt trước áo có ghi chữ BUEBBEPRY (đã qua sử dụng); 01 (Một) quần đùi nam giới, loại quần sọt kaky màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) áo khoác dù 3D rằn ri dài tay, có trùm đầu, màu đen xám đỏ (đã qua sử dụng); 01 (Một) quần đùi nam giới, loại quần thun, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) nón bảo hiểm, màu trắng bạc (đã qua sử dụng); 01 (Một) đôi dép nhựa quai ngang có dòng chữ DW, màu đen, size 42, dưới đế dép có dòng chữ DUWA (đã qua sử dụng).

Kết quả kê biên tài sản: bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.

Trách nhiệm dân sự: ông Hồ Minh T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường.

Bản Cáo trạng số 07/CT-VKSTB, ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Giáp Minh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Giáp Minh T1 từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1.

Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại Hồ Minh T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện:

Vào khoảng 07 giờ 00 ngày 30/10/2024, tại ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm của ông Hồ Minh T2 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển số: 70H1- 240.55, số máy: 5C6J-152200, số khung: RLCS5C6J0FY152199 trị giá: 7.500.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Giáp Minh T1 được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bản Cáo trạng số 07/CT-VKSTB ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Giáp Minh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, các bị cáo N, T1 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

Tính chất của đồng phạm, mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng

phạm:

Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ. Bị cáo T1 giữ vai trò chính, là người phát hiện tài sản và trực tiếp đi vào lấy trộm, sau đó chạy đi tìm nơi tiêu thụ. Bị cáo N chở bị cáo T1 đi tìm tài sản để trộm và khi phát hiện tài sản thì bị cáo N cảnh giới để bị cáo T1 vào lấy trộm. Các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt và mức án đối với các bị cáo.

Nhân thân: bị cáo Nguyễn Hoàng N đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và xử lý vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mặc dù được xem là không có án tích và hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng vẫn bị xem là có nhân thân xấu.

[5] Hình phạt chính: bị cáo Nguyễn Hoàng N đã từng nhiều lần chấp hành hình phạt tù trong khoảng thời gian dài nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Giáp Minh T1 giữ vai trò chính trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác, các bị cáo N, T1 đều là đối tượng có sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[6] Hình phạt bổ sung: các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 không có tài sản, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Trách nhiệm dân sự: bị hại Hồ Minh T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

01 (Một) cây kiềm, dài 12 cm, cán bọc nhựa màu trắng xanh và có dòng chữ SENKA (đã qua sử dụng) là công cụ mà các bị cáo chuẩn bị để thực hiện hành vi phạm tội. 01 (Một) nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng có viền sọc đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) áo sơ mi nam giới, tay dài, màu trắng, mặt trước áo có ghi chữ BUEBBEPRY (đã qua sử dụng); 01 (Một) quần đùi nam giới, loại quần sọt kaky màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) áo khoác dù 3D rằn ri dài tay, có trùm đầu, màu đen xám đỏ (đã qua sử dụng); 01 (Một) quần đùi nam giới, loại quần thun, màu đen (đã

qua sử dụng); 01 (Một) nón bảo hiểm, màu trắng bạc (đã qua sử dụng); 01 (Một) đôi dép nhựa quai ngang có dòng chữ DW, màu đen, size 42, dưới đế dép có dòng chữ DUWA (đã qua sử dụng), các bị cáo sử dụng trong lúc thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Bà N1 không biết việc bị cáo Nguyễn Hoàng N sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, biển số: 70G1-878.67 để đi trộm tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T ban hành quyết định xử lý vật chứng số 1907/QĐ-ĐCSHSKTMT ngày 26/12/2024 trả lại cho bà N1 là có cơ sở.

[10] Về án phí: các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”:

1.1 Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 31/10/2024.

1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Giáp Nguyên T3 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 31/10/2024.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kiềm, dài 12 cm, cán bọc nhựa màu trắng xanh và có dòng chữ SENKA (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng có viền sọc đen (đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi nam giới, tay dài, màu trắng, mặt trước áo có ghi chữ BUEBBEPRY (đã qua sử dụng); 01 (Một) quần đùi nam giới, loại quần sọt kaky màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác dù 3D rằn ri dài tay, có trùm đầu, màu đen xám đỏ (đã qua sử dụng); 01 (Một) quần đùi nam giới, loại quần thun, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm, màu trắng bạc (đã qua sử dụng); 01 (Một) đôi dép nhựa quai ngang có dòng chữ DW, màu đen, size 42, dưới đế dép có dòng chữ DUWA (đã qua sử dụng).

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2025).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Giáp Minh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA -TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Biên;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Phòng PV06-Công an Tây Ninh;
  • - Phân trại tạm giam khu vực IX;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Các bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hoàng N cùng đồng phạm bị truy tố xét xử tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger