TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 19-3-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Phong và bà Trần Thị Phương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Mừng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS, ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Trương Phi K, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1994, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Trương Đình T, sinh năm 1958 và bà Phan Thị Q (đã chết); có vợ là Nguyễn Lê Hoàng V, sinh năm 1998 và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 26-12-2019 Công an huyện Đ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 88/QĐ-XPHC đối với Trương Phi K về hành vi “gây thiệt hại đến tài sản của người khác”, mức phạt là 3.500.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-4-2024; bị cáo đang bị tạm giam - Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Xuân S; sinh năm 1987 - Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Hồ Nhật L; sinh năm 1990 – Vắng mặt.
- Bà Lê Thị Kim L1; sinh năm 1975 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người tham gia tố tụng khác:
Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1985.
- Anh Nguyễn Sỹ C; sinh năm 1984;
- Anh Trương Anh T1; sinh năm 1990;
- Anh Vũ Văn P1; sinh năm 1985;
- Chị Ngô Thị Diễm K1; sinh năm 1991;
- Anh Nguyễn Ngọc V1; sinh năm 1992;
- Anh Trần Thanh T2; sinh năm 1998;
- Anh Phan Trường L2; sinh năm 1994;
- Anh Y Dôn N; sinh năm 2002;
- Anh Trần Xuân H; sinh năm 1990;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông;
Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Thôn Đ xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Thôn G, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Buôn T, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ, ngày 31-3-2024, Trương Phi K đến tiệm vá Lốp của anh Trương Văn T3 tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ để dự sinh nhật. Đến 22 giờ cùng ngày, Vũ Văn P1 cầm ly đến bàn của K mời thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với Vương Văn C1. Lúc này, chị Ngô Thị Diễm K1 (vợ P1) đến nói "chồng em nói nhiều nhưng đã có ý xúc phạm các anh chưa”, rồi đặt mạnh ly bia xuống bàn. K nói “chị sai rồi trong đây toàn là người lớn". Kiều vẫn tỏ thái độ bực tức nên K tát K1 một cái trúng mặt thì được mọi người can ngăn, P1 và K1 đi về. Cùng lúc này K điều khiển xe ô tô BKS 48A-092.38 rượt đuổi tới nhà P1, do được mọi người can ngăn nên K nói “ngày mai không lên xin lỗi anh tao, thì coi chừng”, rồi quay lại dự tiệc tiếp. Sau đó, P1 gọi điện nói cho Nguyễn Ngọc V1 biết việc bị K đánh, do điện thoại mở loa ngoài nên anh Nguyễn Xuân S, Nguyễn Văn V2, Trần Xuân B, Phan Trường L2, Lưu Hoàng A đều nghe cuộc nói chuyện của V2 và P1. Khi biết chuyện, anh S gọi điện cho anh trai K là Trương Anh T1, nói Tuấn nhắn K là “đừng đi quá xa” rồi giữa anh S với K nảy sinh mâu thuẫn thách thức nhau qua điện thoại. Sau đó, anh S cùng Trần Thanh T2, Nguyễn Ngọc V1, Nguyễn Văn V2, B1, Luật, A, Đoàn Thanh V3 và Nguyễn Duy L3 đến quán karaoke gần nhà P1. Viễn và L3 rủ thêm Nguyễn Văn Trí P2, Lê Văn N1, Trương Văn P3 và Quách Thanh T4 đi cùng khi đến nhà P1 thì P1 cho biết K đã quay về tiệm vá lốp, nói mọi người đến tìm K. Đến 00 giờ, ngày 01-4-2024, khi K đang ngồi ở tiệm vá lốp cùng Huỳnh Kim P4, Vương Văn C1, Hồ Nhật L và Tô Văn T5, thì anh S đến dùng tay kéo áo lên khỏi bụng, đưa sát vào người nói “mày bắn anh đi K” rồi T2 cầm ly bia bằng nhựa trên bàn ném vào người K, L2, Y D, H dùng tay, ghế nhựa đánh K và anh L. K bị đánh sưng đầu, bầm mắt phải, xây xước da; anh L bị gãy xương chính mũi, mọi người vào can ngăn và bỏ về. Do bực tức vì bị đánh nên khoảng 07 giờ, ngày 01-4-2024, K lấy 01 khẩu súng ngắn, là vũ khí quân dụng, bên trong có 01 viên đạn, được K cất giấu trong nhà kho từ năm 2019, điều khiển xe ô tô BKS 48A-092.38 đến trước quán C2 của gia đình anh S tại Tổ C, thị trấn Đ. Thấy anh S đang ngồi uống cà phê ở bàn gỗ đặt ở vỉa hè trước quán, K tiến đến vị trí cách S 2,93m, tay phải cầm súng giờ lên, nòng súng hướng về chỗ anh S đang ngồi và bóp cò, súng nổ làm đầu đạn bắn trúng mặt bàn gỗ ngay trước mặt, anh S và những người ngồi cùng bỏ chạy, K tiếp tục hướng nòng súng về phía bàn của anh S ngồi bóp cò để dọa rồi quay ra xe ô tô đi về nhà. Sau đó, K đến Công an huyện Đ đầu thú và giao nộp khẩu súng.
Hiện trường nơi xảy ra vụ án giết người, là phía trước vỉa hè quán cà phê HULK của gia đình anh Nguyễn Xuân S thuộc Tổ C thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vỉa hè rộng 6,5m, nền lát gạch bê tông. Kiểm tra phát hiện trên mặt bàn bằng gỗ, dạng nan xếp, kích thước 60x45x50cm, có vết xuyên thùng nan gỗ, chiều hướng từ trên xuống dưới. Cách cửa quán 1,15m và cách bàn gỗ 50cm phát hiện một mảnh kim loại màu xám (nghi đầu đạn), không rõ hình dạng, kích thước 1,5x0,85x0,45cm.
Kết luận giám định số: 167 ngày 03-4-2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ, kết luận: Khẩu súng gửi đến giám định là súng ngắn tự tạo, bắn đạn thể thao cỡ (5,6x 15,5)mm, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại, khẩu súng này còn sử dụng để bắn được, khi sử dụng khẩu súng bắn ở khoảng cách 01m - 2,5m có thể gây sát thương. Mảnh kim loại gửi đến giám định, là đầu đạn của đạn thể thao, hiện tại đầu đạn đã bị biến dạng hoàn toàn. không đủ cơ sở để kết luận đầu đạn này có phải do khẩu súng gửi đến giám định bắn ra hay không.
Kết luận giám định số: 316 ngày 02-4-2024 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Đ, kết luận: Trương Phi K bị các vết xây sát da ở cung mày trái, ngực, có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 06%. Vật tác động là vật tày và vật tày có cạnh gây ra.
Kết luận giám định số: 503 ngày 31-10- 2024 của Trung tâm P5 – Sở Y tế tỉnh Đ, kết luận: Hồ Nhật L bị xây sát da vùng sống mũi, gãy xương chính mũi đã điều trị thẳng trục, có tỷ lệ phần trăm tốn thương cơ thể là: 08%. Vật tác động là vật tày gây ra.
Kết luận giám định số: 317 ngày 02/4/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ, kết luận: Không đủ cơ sở xác định 02 tệp tin video gửi đến giám định, có bị cắt, ghép, chỉnh sửa hay không.
Cáo trạng số: 04/CT-VKSĐN-P2 ngày 30-12-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Trương Phi K2 về tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 2 Điều 123; khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trương Phi K 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù về tội “Giết người”; Áp dụng khoản 1 Điều 304; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Phi K 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 06 năm 03 tháng đến 07 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận ngày 17/5/2024 và ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý đồ vật, trả lại cho bà Lê Thị Kim L1 01 xe ô tô BKS 481-09238 và anh Nguyễn Xuân S 01 ĐTDD Iphone 11 Promax.
Tịch thu, giao cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ quản lý và phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ tiến hành tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn, là vũ khí quân dụng (sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật).
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh kim loại màu xám, hình dạng không xác định và 01 bàn gỗ loại nan xếp do không còn giá trị sử dụng.
Đối với 01 USB chứa dữ liệu video, là tài liệu đã được đóng dấu bút lục nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Xuân S, là người bị hại đã nhận số tiền bồi thường khắc phục hậu quả là 10.000.000 đồng, có xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu bồi thường thêm nên không xem xét.
Bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; kết quả giám định và các chứng cứ khác thu thập lưu trong hồ sơ vụ án. Năm 2019, bị cáo Trương Phi K tàng trữ 01 khẩu súng là vũ khí quân dụng và 01 viên đạn. Vào sáng ngày 01/4/2024, do bực tức vì trước đó bị anh Nguyễn Xuân S cùng một số người khác đánh gây thương tích nên bị cáo đã dùng khẩu súng này đến quán C2 thuộc Tổ C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông gặp anh S. Tại đây, bị cáo đã hướng nòng súng về phía anh S bóp cò, đạn nổ làm đầu đạn bắn trúng mặt bàn gỗ trước mặt anh Nguyễn Xuân S. Do đầu đạn trúng mặt gỗ nên anh S không bị thương tích. Hành vi của bị cáo Trương Phi K đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, quy định tại khoản 2 Điều 123 và khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Trương Phi K về tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 2 Điều 123 và khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 123 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”.
Điều 304 của Bộ luật Hình sự quy định tội Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng:
“1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm”.
[3]. Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng. Tính mạng, sức khỏe của con người là bất khả xâm phạm và được pháp luật Hình sự bảo vệ; Bị cáo cũng nhận thức được vũ khí quân dụng được Nhà nước độc quyền quản lý nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo đã có hành vi dùng súng (là vũ khí quân dụng) bắn bị hại, muốn tước đoạt trái pháp luật tính mạng của bị hại; Hành vi của bị cáo không những nguy hiểm đến tính mạng của người khác, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về vũ khí mà còn làm ảnh hưởng rất xấu đến trật tự, trị an ở địa phương. Hậu quả chưa xảy ra là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Do đó, HĐXX cần xem xét, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, đối với tội “Giết người” bị cáo dùng súng bắn bị hại nhưng chưa chết người, do đó cần áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 và khoản 3 Điều 57 đối với bị cáo.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có bố đẻ ông Trương Đình T là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và Huân chương kháng chiến hạng nhì; bị hại cũng có một phần lỗi đã gây thương tích cho bị cáo với tỉ lệ thương tật là 6%; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Đối với tội “Giết người” bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại và được bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu thêm nên không xem xét giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng có căn cứ nên cần giải quyết theo quan điểm của Viện kiểm sát.
[8]. Trong vụ án còn có những vấn đề liên quan tuy nhiên Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ và VKSND tỉnh Đắk Nông không đề nghị nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trương Phi K phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Trương Phi K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Áp dụng khoản 2 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Phi K 05 (Năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Giết người”.
Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Phi K 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 06 (Sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01-04-2024).
- Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho bà Lê Thị Kim L1 01 xe ô tô BKS 481-09238 và anh Nguyễn Xuân S 01 ĐTDD Iphone 11 Promax.
- Tịch thu, giao cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ quản lý và phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ tiến hành tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn, là vũ khí quân dụng (sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật).
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh kim loại màu xám, hình dạng không xác định và 01 bàn gỗ loại nan xếp.
- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án đối với 01 USB chứa dữ liệu video, là tài liệu đã được đóng dấu bút lục.
(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông ngày 02-01- 2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về giết người; tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người; Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Phi K phạm tội giết người và sử dụng vũ khí quân dụng trái phép
