Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA BÌNH

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/DS-ST

Ngày 19 tháng 3 năm 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Tài Em
  • Ông Liêu Tài Ngoánh
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 340/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Trụ sở chính: Số B - B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D- Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Diệp Lâm Thảo Q – Trưởng phòng Giao dịch Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín huyện S.

2. Bị đơn: Ông Trương Hùng H, sinh năm 1978

Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

(Bà Q có đơn xin xét xử vắng mặt; ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) trình bày: Ngày 25/8/2022 Ngân hàng TMCP S và ông Trương Hùng H có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng), theo đó Ngân hàng đồng ý cấp cho ông H thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã nhiều lần thực hiện các giao dịch trong hạn mức vay. Do ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Trương Hùng H phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 19/3/2025 là 31.825.329 đồng (trong đó nợ gốc là 20.000.000 đồng, nợ lãi là 11.825.329 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 20/3/2025 đến khi ông H trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

* Bị đơn ông Trương Hùng H vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn ông H không đến Tòa án tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Trương Hùng H, buộc ông H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ tính đến hết ngày 19/3/2025 là 31.825.329 đồng (trong đó nợ gốc là 20.000.000 đồng, nợ lãi là 11.825.329 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 20/3/2025 đến khi ông H trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Trương Hùng H trả số tiền nợ vay còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Đây là quan hệ tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. do đó, Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Trương Hùng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/8/2022 thể hiện Ngân hàng cho ông Trương Hùng H cấp thẻ tín dụng (vay tiền) với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng; mục đích tiêu dùng cá nhân; hình thức vay không có tài sản đảm bảo. Xét thấy, giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân trên được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 108 Luật các tổ chức tín dụng.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trương Hùng H đã nhiều lần thực hiện các giao dịch trong hạn mức vay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bị đơn để giải quyết vụ án nhưng ông V vắng mặt được xem là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.

Xét thấy, ông Trương Hùng H đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đã giao kết trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng với tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 19/3/2025 là 31.825.329 đồng (trong đó nợ gốc là 20.000.000 đồng, nợ lãi là 11.825.329 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 20/3/2025 đến khi ông H trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[4] Về án phí: Ngân hàng không phải chịu án phí. Do ông H phải có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí tương ứng với nghĩa vụ phải thực hiện là 31.825.329 đồng x 5% = 1.591.266 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 100; Điều 103; khoản 3 Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Trương Hùng H.
  2. Buộc ông Trương Hùng H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến hết ngày 19/3/2025 là 31.825.329 đồng (trong đó nợ gốc là 20.000.000 đồng, nợ lãi là 11.825.329 đồng).

Kể từ ngày 20/3/2025 ông Trương Hùng H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí:

Buộc ông Trương Hùng H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.591.266 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp tạm ứng án phí số tiền 660.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005790 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Hòa Bình;
  • -CCTHADS huyện Hòa Bình;
  • -Đương sự;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù trong hợp đồng thế chấp chỉ có chữ ký của ông L và bà D1 không có chữ ký của thành viên trong hộ ông L là chị L1 và chị M. Tuy nhiên, trước khi ông L và bà D1 ký kết hợp đồng thế chấp thì chị M và chị L1 đã cùng ký vào biên bản họp thành viên hộ gia đình ngày 10/11/2015, biên bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, nội dung biên bản thể hiện chị L1 và chị M đồng ý ủy quyền cho ông L và bà D1 được toàn quyền thế chấp tài sản hộ gia đình cho Ngân hàng thương mại cổ phần K, trong phạm vi ủy quyền ông L và bà D1 được ký kết các hợp đồng, văn bản có liên quan đến việc vay vốn, thế chấp theo quy định pháp luật, trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ các thành viên của hộ đồng ý để Ngân hàng được toàn quyền xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận hợp đồng thế chấp...

Theo biên bản lấy lời khai chị M xác định không biết việc vay tiền của ông L và bà D1 đối với Ngân hàng, chị không có ký tên vào biên bản họp thành viên hộ gia đình ngày 10/11/2015 nên không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp. Quá trình giải quyết vụ án cả chị M, Ngân hàng và các đương sự khác trong vụ án đều cương quyết không ai yêu cầu giám định. Căn cứ vào biên bản họp có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã V đối với các chữ ký của chị L1 và chị M là đúng nên không có căn cứ chấp nhận trình bày của chị M.

Quá trình giải quyết vụ án chị L1 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị L1 cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào liên quan đến hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp này, hơn nữa theo sự thống nhất của ông T, ông L và bà D1 sau khi vay tiền ông L và bà D1 đưa toàn bộ số tiền vay được cho chị L1 và anh T. Do đó, việc giao dịch vay tiền và thế chấp của ông L, bà D1 thì chị L1 đã biết, đến nay chị L1 cũng không có văn bản gì phản đối đối với yêu cầu của Ngân hàng.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 19/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S yêu cầu ông H trả nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger