|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 3 năm 2025 V/v “tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tuấn;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thị Phẩm
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh P tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đặng Thùy T, sinh năm 1996,
- ĐKHKTT: thôn 2, xã Vũ Quí, huyện K, tỉnh B.
- - Bị đơn: Anh Lê Ngọc A, sinh năm 1993,
- ĐKHKTT: khu 15, thị trấn S, huyện L, tỉnh P.
- Hiện nay đang ở nước ngoài.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tạ Bích H, sinh năm 1968.
- ĐKHKTT: khu 15, thị trấn S, huyện L, tỉnh P.
- (Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh A, bà H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Đặng Thùy T trình bày: chị T và anh Lê Ngọc A tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 05/4/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện Lâm Thao, tỉnh P. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Sau đó một thời gian anh A đi lao động tại nước ngoài, từ đó đến nay giữa hai vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Ngọc A.
Về con chung: chị Đặng Thùy T xác định trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 26/8/2018. Khi ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao cháu D cho anh Lê Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện nay anh A đang ở nước ngoài, chị T đề nghị Tòa án tạm giao cháu D cho bà Tạ Bích H (mẹ đẻ anh A) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D trong thời gian anh A ở nước ngoài cho đến khi anh A trở về Việt Nam. Chị T không cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn đề nghị ngày 05/3/2025 chị T xin tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/01 tháng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung vợ chồng: anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: chị Đào xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Đặng Thùy T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt mình.
Chị Đặng Thùy T trình bày hiện nay chị không biết địa chỉ cụ thể của anh A ở nước ngoài nên chị không thể cung cấp địa chỉ của anh A cho Tòa án được. Chị T đề nghị Tòa án xác minh địa chỉ của anh A ở nước ngoài thông qua mẹ đẻ của anh A là bà Tạ Bích H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Bích H trình bày: bà là mẹ đẻ của anh Lê Ngọc A. Hiện nay anh A đang ở Đài Loan. Bà H vẫn thường xuyên liên lạc với anh A qua điện thoại nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh A ở chỗ nào tại Đài Loan vì anh A không nói cho bà biết. Do vậy bà H không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của anh A cho Tòa án. Bà H cũng đã nhận thay và thông báo về nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh A được biết. Việc chị T làm đơn xin ly hôn anh A bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: bà H khẳng định anh A và chị T có 01 con chung là cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 26/8/2018. Hiện nay cháu D đang được bà chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp. Bà H cũng đã thông báo cho anh A biết về yêu cầu khởi kiện của chị T và anh A có nói lại với bà là hiện nay anh A đang ở nước ngoài không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn được nên anh A đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh chị theo quy định pháp luật. Về vấn đề con chung anh A nhất trí với yêu cầu của chị T, do anh đang ở nước ngoài nên anh A ủy quyền cho bà H thay mặt anh chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D cho đến khi anh A trở về Việt Nam. Bà H cũng hoàn toàn nhất trí với nguyện vọng về con chung của anh A. Bà H đề nghị Tòa án giao cháu D cho anh A chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi chị T, anh A ly hôn và tạm giao cháu D cho bà được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh A ở nước ngoài. Bà nhất trí với sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: cho chị Đặng Thùy T ly hôn anh Lê Ngọc A. Về con chung: giao con chung là cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 26/8/2018 cho anh Lê Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh A ở nước ngoài, tạm giao cháu D cho bà Tạ Bích H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh A về nước đón cháu. Chị Đặng Thùy T cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ/tháng, cho đến khi cháu D trưởng thành, lao động tự túc được; phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. Về án phí: chị Đặng Thùy T chịu 300.000đ án phí ly hôn và 300.000đ án phí cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Đặng Thùy T nộp đơn xin được ly hôn với anh Lê Ngọc A. Trong đơn khởi kiện chị T trình bày anh A hiện đang ở nước ngoài. Tại văn bản số 1210/QLXNC-Đ1 ngày 14/10/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh P đã xác nhận anh A đã xuất cảnh và hiện chưa nhập cảnh về Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh P.
Trong vụ án này anh A đang ở nước ngoài, chị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
Chị T và bà H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thùy T và anh Lê Ngọc A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 05/4/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện Lâm Thao, tỉnh P. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng anh chị luôn hòa thuận, yêu thương nhau. Sau đó, trong quá trình chung sống giữa vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Ngọc A. Hội đồng xét xử thấy rằng chị T và anh A đã không còn chung sống cùng với nhau, vợ chồng sống ly thân đã một thời gian dài, không có sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Đặng Thùy T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Ngọc A là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó đề nghị xin ly hôn của chị T được chấp nhận.
Anh Lê Ngọc A hiện nay đang ở nước ngoài, chị Đặng Thùy T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Lê Ngọc A ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh A ở nước ngoài cho Tòa án. Theo yêu cầu của chị T, Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh A ở nước ngoài thông qua mẹ đẻ của anh A là bà Tạ Bích H.
Thân nhân của anh Lê Ngọc A là bà Tạ Bích H cung cấp thông tin như sau: hiện tại bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh A nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh A ở nước ngoài vì anh A không nói cho bà được biết. Do vậy, bà không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của anh A cho Tòa án được. Bà H cũng nhất trí nhận thay anh A các văn bản tố tụng và thông báo về nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh A biết. Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, xác định đây là A hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Về con chung: hồ sơ vụ án thể hiện trong thời kỳ hôn nhân chị Đặng Thùy T và anh Lê Ngọc A có 01 con chung là cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 26/8/2018. Khi ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao cháu D cho anh Lê Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện nay anh A đang ở nước ngoài, chị T đề nghị Tòa án tạm giao cháu D cho bà Tạ Bích H (mẹ đẻ anh A) chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh A ở nước ngoài cho đến khi anh A trở về Việt Nam. Xét thấy: cháu D hiện đang được bà Tạ Bích H (mẹ đẻ anh A) chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp. Bà Tạ Bích H cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm về con chung của chị T và đề nghị Tòa án tạm giao cháu D cho bà được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh A ở nước ngoài. Do vậy, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và việc học tập của cháu D thì cần giao cháu D cho anh Lê Ngọc A chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi chị T và anh A ly hôn. Trong thời gian anh A ở nước ngoài thì bà Tạ Bích H vẫn tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D đến khi anh A trở về Việt Nam là phù hợp.
- Về cấp dưỡng nuôi con: tại đơn khởi kiện chị T đề nghị không phải cấp dưỡng nuôi con. Ngày 05/3/2025 chị T có đơn đề nghị xin tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/01 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét thấy trước khi mở phiên tòa chị T tự nguyện xin cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Do đó cần ghi nhận sự tự nguyện của chị T về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung vợ chồng: anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con: chị Đặng Thùy T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thùy T.
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thùy T được ly hôn với anh Lê Ngọc A.
[2] Về con chung: Giao cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 26/8/2018 cho anh Lê Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian anh A ở nước ngoài, tạm giao cháu D cho bà Tạ Bích H tiêp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D cho đến khi anh A về nước sẽ bàn giao lại cháu D cho anh A nuôi dưỡng.
Chị Đặng Thùy T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/01 tháng kể từ tháng 3/2025 cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.
Chị Đặng Thùy T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị Đặng Thùy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị Đặng Thùy T (do chị Lê Thị Thanh Hằng nộp thay) đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000414 ngày 29/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh P. Chị Đặng Thùy T còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[5] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: đương sự có mặt ở Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Các đương sự ở nước ngoài có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong A hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Ngọc Tuấn |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân gia đình
