Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 19/2025/HSST

Ngày 12/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hải

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sâm và ông Nguyễn Văn Trò

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Kiều Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Nguyễn Công L

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

    Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1981 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi cư trú: khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12;

    Con ông Nguyễn Công K và bà Nguyễn Thị C. Bị cáo có vợ là Hà Thị M và 04 con.

    Tiền án: 01 tiền án. Tại Bản án số 22/HSST ngày 11/4/2013 của TAND tỉnh Phú Thọ, áp dụng khoản 1 Điều 248, Điều 30, điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Công L 8.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước, về tội “Đánh bạc” và phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Ngày 11/4/2013, L đã nộp 200.000 đồng án phí HSST và đến ngày 07/3/2016 L nộp 2.000.000 đồng tiền phạt, còn phải thi hành 6.000.000 đồng tiền phạt nộp ngân sách nhà nước, xác định chưa được xóa án tích;

    Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Bản án số 07/HSST ngày 21/01/2009 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Nguyễn Công L 09 tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Đánh bạc” và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tháng 03/2009, L đã chấp hành xong việc nộp án phí. Kết quả xác minh việc chấp hành án 09 tháng cải tạo không giam giữ của bản án này tại Công an xã T nay là xã M từ năm 2009 đến năm 2014 không có tài liệu thể hiện việc chấp hành án của L tại địa phương, xác định đã được xóa án tích của bản án này.

    Bị cáp bị bắt tạm giữ từ ngày 30/9/2024 đến ngày 06/10/2024. Hiện đang bị tạm giam từ ngày 06/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt.

  2. Họ tên: Nguyễn Huy T

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

    Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1961 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi cư trú: khu T, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10;

    Con ông Nguyễn Huy T1 và bà Nguyễn Thị M1. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Đ và 04 con.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Bản án số 33/HSST ngày 28/10/2011 của TAND huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Nguyễn Huy T 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 27/3/2012, T đã chấp hành xong việc nộp án phí.

    Bản án số 53/HSST ngày 08/8/2013 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Nguyễn Huy T 03 tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 33/HSST ngày 28/10/2011 của TAND huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, buộc Nguyễn Huy T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 18 tháng tù và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 08/11/2013, T đã chấp hành xong việc nộp án phí, nhưng chưa đi chấp hành án 18 tháng tù.

    Bản án số 24/HSST ngày 15/7/2020 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Nguyễn Huy T 09 tháng tù, về tội “Đánh bạc” và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 08/11/2013, T đã chấp hành xong việc nộp án phí. Tại bản án này đã nhận định đối với hình phạt tù 18 tháng của (Bản án số 53/HSST ngày 08/8/2013 của TAND huyện Cẩm Khê, xử phạt 03 tháng tù và tổng hợp hình phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số 33/HSST ngày 28/10/2011 của TAND huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ) đối với Nguyễn Huy T đã hết thời hiệu phải đi thi hành án. Đến ngày 02/11/2020, T đã chấp hành xong việc nộp án phí của bản án này và chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam T10 ngày 21/5/2021.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/9/2024 đến ngày 06/10/2024. Hiện đang bị tạm giam từ ngày 06/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt.

  3. Họ tên: Nguyễn Văn X

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

    Sinh ngày 07 tháng 02 năm 2002 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi cư trú: khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Đảng phái: Không;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12;

    Con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/9/2024 đến ngày 06/10/2024. Hiện đang bị tạm giam từ ngày 06/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1972. Trú tại: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
  • + Anh Thái Đức T5, sinh năm 1990. Trú tại: Khu Q, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956. Trú tại: Khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
  • + Anh Đặng Quốc T6, sinh năm: 1982. Trú tại: Khu V, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

- Người bào chữa của bị cáo L: Bà Bùi Thu H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: Chị Trần Thị Phương K1, sinh năm 1979. Địa chỉ: tại: Khu Q, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 30/9/2024 tại đoạn đường thuộc khu X, xã N (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã N đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn vi phạm nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra người này khai tên là Nguyễn Công L - sinh năm 1981, nơi cư trú: khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C. Tại chỗ L lấy trong túi quần ra 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, trong có 04 gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong đều chứa chất bột cục, màu trắng giao nộp. L khai nhận là ma túy Heroine cất giấu để bán cho Thái Đức T5 - sinh năm 1990, nhà ở khu Q, thị trấn C, huyện C, nhưng chưa kịp bán thì bị kiểm tra, phát hiện. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, còn tạm giữ của L: 01 điện thoại SAM SUNG Galaxy A03S màu xanh, trong lắp sim số 0928.840.598 và 01 xe mô tô Honda Wave màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 19G1-508.20. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L tại khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Về nguồn gốc số ma túy trên, L khai mua của Nguyễn Huy T - sinh năm 1961, nhà ở khu T, xã L, huyện Y. Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với Nguyễn Huy T cùng ngày thì T khai nhận đã 02 lần bán ma túy Heroine cho L các ngày 27 và 30/9/2024. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại khu T, xã L, huyện Y thu giữ được 01 gói giấy, một mặt nhiều màu, một mặt màu trắng, bên trong chứa chất bột cục, màu trắng mà T khai là ma túy Heroine tàng trữ để bán kiếm lời. Ngoài ra còn tạm giữ của T: Số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại Masstel màu xanh, trong lắp sim số 0971.440.862 và 01 điện thoại Redmi 9A màu xanh, trong lắp sim số 0963.631.223.

Về nguồn gốc số ma túy đã bán cho L và số ma túy bị thu giữ khi khám xét, T khai mua của Nguyễn Văn X - sinh năm 2002, nhà ở khu X, xã P, huyện C. Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với Nguyễn Văn X cùng ngày thì X khai nhận đã 02 lần bán ma túy Heroine cho T các ngày 27 và 30/9/2024 và giao nộp, gồm: 01 túi nilon màu trắng (bên trong túi nilon này có: 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, trong chứa chất bột cục, màu trắng; 03 gói giấy hai mặt màu trắng bạc, trong chứa chất bột cục, màu trắng; 02 gói giấy một mặt nhiều màu, một mặt màu trắng, trong có chứa chất bột cục màu trắng; 01 gói nilon một đầu có khuy bấm viền màu xanh, trong có 04 viên nén hình tròn màu hồng và 01 viên nén màu hồng bị vỡ và số tiền 500.000 đồng). X khai các gói chứa chất bột cục, màu trắng trên là ma túy Heroine, 05 viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine tàng trữ để bán kiếm lời; 500.000 đồng là tiền bán ma túy cho T trước đó còn lại. Ngoài ra còn tạm giữ của X 01 điện thoại SAM SUNG Galaxy J6+ màu xanh, trong lắp sim số 0325.401.695 và 01 điện thoại Iphone X màu trắng, trong có lắp sim số 0964.676.182. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của X tại khu X, xã P, huyện C nhưng không phát hiện, thu giữ gì. Tại cơ quan điều tra X còn khai đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T4 - sinh năm 1972, nhà ở khu T, xã T, huyện C 03 lần các ngày 21, 22 và ngày 25/9/2024. Về nguồn gốc số ma túy đã bán cho T4, cho T và số ma túy giao nộp, X khai đã mua được của một người đàn ông không quen biết ở khu vực chân cầu T thuộc phường T, quận B, thành phố Hà Nội 02 lần các ngày 20 và 26/9/2024.

Ngày 30/9/2024, cơ quan điều tra triệu tập làm việc với Nguyễn Văn T4 và Thái Đức T5. Tại cơ quan điều tra T4 khai 03 lần mua ma túy Heroine của Nguyễn Văn X các ngày 21, 22 và 25/9/2024 và giao nộp lại 01 điện thoại TCL408, trong có lắp sim số 0388.978.949 dùng để liên lạc khi hỏi mua ma túy của X. T5 khai 02 lần hỏi mua ma túy Heroine của Nguyễn Công L và đã 01 lần mua được ma túy của Lan ngày 28/9/2024, còn ngày 30/9/2024 T5 chưa mua được ma túy của L. T5 giao nộp lại 01 điện thoại Mastel màu xanh, trong có lắp sim số 0365.783.990 dùng để liên lạc khi hỏi mua ma túy của L.

Ngày 30/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 1019/QĐ-TCGĐ trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh P giám định: Chất bột cục, màu trắng chứa trong 04 gói giấy thu giữ của Nguyễn Công L. Tại bản Kết luận giám định số 1357/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P, kết luận: Chất bột cục, màu trắng chứa trong 04 gói giấy gửi đến giám định là ma túy; có tổng khối lượng 0,231 gam; loại Heroine (H).

Ngày 30/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 1023/QĐ-TCGĐ trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh P giám định: Chất bột cục, màu trắng chứa trong 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh; trong 05 gói giấy; 05 viên nén màu hồng, niêm phong trong 02 bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi triệu tập làm việc với Nguyễn Văn X; Chất bột cục, màu trắng chứa trong 01 gói giấy một mặt nhiều màu, một mặt màu trắng, niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Huy T.

Tại bản kết luận giám định số 1360/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P, kết luận:

  • + Chất bột cục, màu trắng trong 01 gói nilon và 05 gói giấy, niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi triệu tập làm việc với Nguyễn Văn X gửi đến giám định là ma túy; có tổng khối lượng 1,479 gam; loại Heroine (H).
  • + 05 viên nén hình tròn màu hồng, niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi triệu tập làm việc với Nguyễn Văn X gửi đến giám định là ma túy; có tổng khối lượng 0,450 gam; loại Methamphetamine;
  • + Chất bột cục, màu trắng trong 01 gói giấy một mặt nhiều màu, một mặt màu trắng, niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Huy T gửi giám định là ma túy; khối lượng 0,098 gam; loại Heroine (H).

* Heroine (H1), có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ: Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

* M2 là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Trong các ngày 30/9/2024, 01/10/2024 và 02/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có đề nghị Trung tâm y tế huyện C xác định tình trạng sử dụng ma tuý đối với Nguyễn Công L, Nguyễn Huy T, Nguyễn Văn X và Thái Đức T5. Kết quả xác định tình trạng sử dụng ma túy của Trung tâm y tế huyện C đối với Nguyễn Văn X, Nguyễn Huy T, Nguyễn Công L và Thái Đức T5 đều dương tính với chất ma túy nhóm O (thuốc phiện) và các dẫn xuất bán tổng hợp của thuốc phiện trong tự nhiên (morphin, heroin, codein và hydrocodone), âm tính với ma túy thuộc 04 thành phần: THC (cần sa); MET (ma túy đá); AMP (ma túy tổng hợp); MOP (thuốc phiện). Tại biên bản xác định chất ma túy đối với Nguyễn Văn T4 ngày 03/10/2024 tại Công an huyện C khi tiến hành test nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T4 bằng que test Drugs Of Abuse T7, loại 04 chân cho kết quả dương tính với chất ma túy nhóm MOP (Heroine) và âm tính với ma túy MET, THC, MDMA.

Quá trình điều tra xác định:

Từ ngày 20/9/2024 đến ngày 26/9/2024, Nguyễn Văn X đã 02 lần đi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết ở khu vực chân cầu T thuộc phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Trong đó ngày 20/9/2024, X mua được của người đàn ông này 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng và mang về nhà chia nhỏ ra thành 03 gói nhỏ gói lại bằng giấy bạc. Từ ngày 21/9/2024 đến ngày 25/9/2024, X đã 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn T4, cụ thể:

Lần 1:

Khoảng 10 giờ ngày 21/9/2024, X đang ở nhà thì Nguyễn Văn T4 sử dụng chiếc điện thoại TCL408, trong có lắp sim số 0388.978.949 gọi đến số điện thoại 0964.676.xxx lắp trong chiếc điện thoại SAM SUNG Galaxy J6+ của X, hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine và được X đồng ý bán, hẹn gặp đến nhà X để lấy ma túy. Đến khoản 12 giờ 30 phút cùng ngày, T4 đến gặp X phía ngoài cổng nhà đưa X 200.000 đồng và được X đưa lại cho 01 gói Heroine, gói bằng giấy bạc màu trắng không xác định được khối lượng. Sau đó T4 cầm gói ma túy mua được đi đến đoạn đường vắng và đã sử dụng một mình hết.

Lần 2:

Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 22/9/2024 cũng với cách thức liên hệ như lần trước, T4 tiếp tục hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine và được X đồng ý bán. Sau đó T4 đã gặp và mua được của X 01 gói Heroine không xác định được khối lượng, với giá 200.000 đồng và T4 đã sử dụng một mình hết gói Heroine này.

Lần 3:

Khoảng 19 giờ ngày 25/9/2024 cũng với cách thức liên hệ như hai lần trước, T4 lại hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine và được X đồng ý bán. Sau đó T4 đã gặp và mua được của X 01 gói Heroine không xác định được khối lượng, với giá 200.000 đồng và T4 đã sử dụng một mình hết gói Heroine này. Số tiến có được từ việc bán ma túy cho Thụ các ngày 21, 22 và 25/9/2024 X đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 26/9/2024, X lại đi đến khu vực chân cầu T thuộc phường T, quận B, thành phố Hà Nội gặp và mua của người đàn ông không quen biết này 01 gói Heroine với giá 3.000.000 đồng và được người này cho thêm 05 viên nén hình tròn màu hồng là loại ma túy Methamphetamine. Xuyến mang về nhà chia tách gói Heroine này thành 09 gói nhỏ cho vào 01 túi nilon màu trắng cùng với 05 viên nén màu hồng cất giấu để bán kiếm lời. Từ ngày 27/9/2024 đến ngày 30/9/2024, X đã 02 lần bán ma túy Heroine cho Nguyễn Huy T, cụ thể:

Lần 1:

Khoảng 17 giờ ngày 27/9/2024, X đang ở nhà thì Nguyễn Huy T đến gọi phía ngoài cổng nhà, X đi ra ngoài cổng gặp T. Tại đây T có hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine và được X đồng ý bán ma túy cho. Sau đó X đi vào nhà lấy ra 01 gói Heroine, gói ngoài bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng không xác định được khối lượng đưa cho T và được T trả cho 400.000 đồng, T xin nợ lại 100.000 đồng. Số tiền này X đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến tối cùng ngày khi X có lấy ra 01 gói Heroine sử dụng một mình hết.

Lần 2:

Khoảng 08 giờ ngày 30/9/2024, khi X đang ở nhà, T lại đến gọi ở phía ngoài cổng, X đi ra gặp. Tại đây T hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine, X đồng ý bán. Sau đó X đi vào nhà lấy ra 01 gói Heroine, gói ngoài bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng không xác định được khối lượng đưa cho T và được T trả cho 500.000 đồng. Đến 17 giờ 05 phút cùng ngày 30/9/2024, X bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C triệu tập đến làm việc, X đã tự giác giao nộp lại số ma túy còn lại, gồm: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 gói nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu xanh, trong chứa chất bột cục, màu trắng; 03 gói giấy hai mặt màu trắng bạc, trong chứa chất bột cục, màu trắng; 02 gói giấy một mặt nhiều màu, một mặt màu trắng, trong có chứa chất bột cục, màu trắng; 01 gói nilon một đầu có khuy bấm viền màu xanh, bên trong có 04 viên nén hình tròn màu hồng và 01 viên nén màu hồng bị vỡ và số tiền 500.000 đồng là tiền bán ma túy T ngày 30/9/2024. Ngoài ra, X còn giao nộp 01 điện thoại Iphone X màu trắng, trong có lắp sim số 0964.676.182 mà X sử dụng để liên lạc trao đổi bán ma túy cho Nguyễn Văn T4 các ngày 21, 22 và 25/9/2024 và 01 điện thoại di động SAM SUNG Galaxy J6+, trong có lắp sim số thuê bao 0325.401.695 nhưng không sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Huy T sau khi mua được ma túy Heroine của Nguyễn Văn X các ngày 27/9/2024 và 30/9/2024 thì T đã 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Công L các ngày 27/9/2024 và 30/9/2024, cụ thể:

Lần 1:

Khoảng 17 giờ 27/9/2024, Nguyễn Công L sử dụng chiếc điện thoại SAM SUNG Galaxy A03S, trong có lắp sim số 0928.840.568 gọi vào số điện thoại 0963.631.xxx được lắp trong chiếc điện thoại Redmi 9A của T để hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine, T đồng ý bán và hẹn L đến nhà T để lấy ma túy. Sau đó, T đi đến nhà Nguyễn Văn X gặp và mua được của X 01 gói Heroine không xác định được khối lượng, với giá 500.000 đồng, nhưng T mới trả cho X 400.000 đồng, còn nợ lại 100.000 đồng. Trên đường về nhà T bỏ gói ma túy mua được ra và lấy ¼ lượng ma túy trong gói ra sử dụng một mình hết bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, ¼ lượng ma túy còn lại T gói lại bằng giấy gói ban đầu để mang về bán cho L. Khi T về đến cổng nhà thấy L đang đứng đợi, T đã bán cho L gói ma túy này, nhưng không xác định được khối lượng. L đã chuyển khoản số tiền 500.000 đồng từ số tài khoản 0964731420 mang tên Nguyễn Công L vào số tài khoản 0963631223 mang tên Nguyễn Huy T đều mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q để trả tiền mua ma túy cho T. Số tiền 500.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho L, T đã rút ra sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lần 2:

Khoảng 09 giờ ngày 30/9/2024, cũng với cách thức liên lạc như trên L lại gọi điện đến hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine của T, T đồng ý và hẹn L đến nhà đợi để T đi lấy ma túy. Sau đó T đi đến nhà gặp và mua của X được 01 gói Heroine, gói bằng giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy trên đường về T dừng lại ở ven đường, xẻ lại ¼ lượng ma túy trong gói ma túy mua được ra và nhặt lấy một mảnh giấy, một mặt nhiều màu, một mặt màu trắng ở ven đường gói lại thành 01 gói cất vào trong người, ¾ lượng ma túy còn lại T gói lại bằng giấy gói ban đầu để bán cho L. Khi T đi về đến cổng nhà mình thấy L đang đứng đợi, T đã đưa L 01 gói ma túy nhưng không xác định được khối lượng và được L trả cho số tiền 500.000 đồng. Đến chiều tối cùng ngày T bị Cơ quan điều tra triệu tập đến làm việc và khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, thu giữ tại vị trí chân tủ gỗ tại phòng khách nhà T 01 gói Heroine gói ngoài bằng giấy, một mặt nhiều màu, một mặt màu trắng và tạm giữ số tiền 500.000 đồng là tiền bán ma túy cho L ngày 30/9/2024.

Đối với Nguyễn Công L sau khi mua được ma túy của Nguyễn Huy T các ngày 27/9/2024 và ngày 30/9/2024 thì L đã 02 lần bán ma túy cho Thái Đức T5 các ngày 28/9/2024 và 30/9/2024, cụ thể:

Lần 1:

Khoảng 09 giờ ngày 28/9/2024, L đang ở nhà một mình thì có Thái Đức T5 sử dụng chiếc điện thoại Mastel mượn của anh Đặng Quốc T6 - sinh năm 1982, trú tại khu V, xã Đ, huyện C, trong có lắp sim số 0365.783.990 đăng ký chính chủ mang tên T5 gọi vào số điện thoại 0928.840.xxx được lắp trong chiếc điện SAM SUNG Galaxy A03S của L để hỏi mua 600.000 đồng ma túy Heroine, L đồng ý. L yêu cầu T5 phải chuyển khoản trước số tiền này vào số tài khoản 0964731420 mang tên Nguyễn Công L mở tại mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Do không có tiền trong tài khoản nên T5 đã nhờ chị Trần Thị Phương K1 - sinh năm 1979, trú tại khu Q, thị trấn C, huyện C chuyển khoản hộ 600.000 đồng từ số tài khoản 108875249743 mang tên Trần Thị Phương K1 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần V vào số tài khoản 0964731420 của Nguyễn Công L. Sau khi nhận được tiền L hẹn gặp T5 tại khu vực ngã ba khu X, xã N, huyện C để giao ma túy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày T5 đi đến khu vực ngã ba khu X, xã N gặp L đang đứng đợi và được L đưa cho 01 gói ma túy Heroine, gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Sau khi mua được ma túy T5 mang về nhà một mình sử dụng hết gói ma túy này bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Đối với số tiền 600.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho T5 ngày 28/9/2024 L đã rút ra từ số tài khoản 0964731420 và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lần 2:

Khoảng 10 giờ ngày 30/9/2024, cũng với cách thức liên lạc như trên T5 lại gọi điện cho L hỏi mua 1.100.000 đồng ma túy Heroine để sử dụng và được L đồng ý bán ma túy cho, hẹn gặp giao ma túy và trả tiền tại ngã ba khu X, xã N, huyện C. Sau đó L điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 19G1-508.20 của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị C - sinh năm 1956, trú tại khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C đến nhà Nguyễn Huy T mua được 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Trên đường về L bỏ gói ma túy mua được ra chia nhỏ thành 04 phần gói lại thành 04 gói giấy, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng L1 rồi cất vào trong túi quần đi đến ngã ba khu X, xã N, huyện C để bán số ma túy này cho T5 với giá 1.100.000 đồng. Đến 11 giờ 45 phút cùng ngày khi L đang đứng đợi T5 đến để bán ma túy thì Công an phát hiện, bắt quả tang.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn X, Nguyễn Huy T và Nguyễn Công L đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Trong đó, Nguyễn Công L đã tự nguyện khai báo về lần bán ma túy cho Thái Đức T5 ngày 28/9/2024, X đã tự nguyện khai báo về 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn T4 vào các ngày 21, 22 và 25/9/2024 trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp nhau và phù hợp với lời khai của những người liên quan Nguyễn Văn T4, Thái Đức T5 về thời gian, địa điểm, phương thức liên lạc, thủ đoạn thực hiện tội phạm, loại ma túy, giá trị tiền mua bán ma túy và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT - VKSCK ngày 10 tháng 02 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê đã truy tố bị cáo Nguyễn Công L, Nguyễn Huy T và Nguyễn Văn X về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công L, Nguyễn Huy T, Nguyễn Văn X phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung:

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Công L từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T từ 07 năm 07 tháng đến 07 năm 10 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, do các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  • + Tịch thu để tiêu hủy: 0,138 gam Heroine chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định còn lại sau trích mẫu giám định, thu giữ của Nguyễn Công L khi bắt quả tang, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán; 1,279 gam Heroine chất bột, cục màu trắng và 0,300 gam Methamphetamine viên nén màu hồng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định còn lại sau trích mẫu giám định, do Nguyễn Văn X giao nộp khi triệu tập làm việc, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán; 0,073 gam Heroine chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định còn lại sau trích mẫu giám định, thu giữ của Nguyễn Huy T khi khám xét, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1 màu vàng dùng để cất giấu ma túy bên trong thu giữ của Nguyễn Công L khi bắt quả tang; 01 sim số thuê bao 0928.840.598 lắp trong điện thoại SAM SUNG Galaxy A03S màu xanh tạm giữ của bị cáo L; 01 sim số thuê bao 0963.631.223 lắp trong điện thoại Redmi 9A màu xanh tạm giữ của bị cáo T; 01 sim số thuê bao 0964.676.182 lắp trong điện thoại Iphone X màu trắng tạm giữ của bị cáo X; 01 sim số 0388.978.949 lắp trong điện thoại TCL408 tạm giữ của Nguyễn Văn T4; 01 sim điện thoại số thuê bao 0365.783.xxx tạm giữ của Thái Đức T5.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với: Số tiền 1.000.000 đồng (gồm: 500.000 đồng thu giữ của X và 500.000 đồng thu giữ của T); 01 điện thoại SAM SUNG Galaxy A03S màu thu giữ của T; 01 điện thoại Iphone X màu trắng thu giữ Xuyến; 01 điện thoại TCL 408 thu giữ của Nguyễn Văn T4.
  • - Truy thu của bị cáo L 600.000 đồng, bị cáo T 500.000 đồng, bị cáo X 1.000.000 đồng, là tiền do các bị cáo phạm tội mà có để nộp ngân sách nhà nước.
  • - Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại SAM SUNG Galaxy J6+ màu xanh màn hình bị nứt vỡ đã qua sử dụng, trong có lắp sim số 0325.401.695 của bị cáo X; 01 điện thoại Masstel màu xanh đã qua sử dụng, trong có lắp sim số 0971.440.862 của bị cáo T để đảm bảo thi hành án.

- Công nhận kết quả xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện C trong giai đoạn điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị C - sinh năm 1956, trú tại khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C xe mô tô Honda Wave màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 19G1-508.20 và trả lại cho anh Đặng Quốc T6 - sinh năm 1982, trú tại khu V, xã Đ, huyện C 01 điện thoại di động Masstel.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 điều 136 BLHS; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 để miễn án phí HSST cho bị cáo L và bị cáo T do thuộc diện hộ nghèo và diện người cao tuổi; buộc bị cáo Nguyễn Văn X phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công L trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đã đề nghị. Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo biết hành vi phạm tội của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án và các tài liệu khác lưu trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 30/9/2024 tại đoạn đường thuộc khu X, xã N (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Công L đã có hành vi tàng trữ 0,231 gam Heroine nhằm mục đích để bán cho Thái Đức T5, nhưng chưa kịp bán thì bị kiểm tra, phát hiện. Ngoài ra, ngày 28/9/2024 Nguyễn Công L còn bán cho Thái Đức T5 01 gói Heroine với giá 600.000 đồng nhưng không xác định được khối lượng. Nguyễn Công L và T5 chỉ thoả thuận về số tiền, loại ma tuý mua bán và không thoả thuận gì về khối lượng ma tuý mua bán nên không xác định được khối lượng ma túy. Số ma túy mà T5 mua được của L ngày 28/9/2024 thì T5 đã sử dụng cho bản thân hết nên không thu được vật chứng. Nguyễn Công L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần với khối lượng ma túy thu giữ đã xác định được là 0,231 gam Heroine.

Ngày 30/9/2024 tại nhà của Nguyễn Huy T ở khu T, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Huy T có hành vi tàng trữ 01 gói Heroine, có khối lượng 0,098 gam để bán kiếm lời. Ngoài ra, T có hành vi bán ma túy cho L 02 lần vào ngày 27/9/2024 và ngày 30/9/2024, mỗi lần T bán cho L 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng/ 1 gói. Các lần thỏa thuận mua bán ma tuý giữa L và T đều chỉ thoả thuận về số tiền, loại ma tuý mua bán và không thoả thuận, thống nhất gì về khối lượng ma tuý mua bán nên không xác định được khối lượng ma túy. Nguyễn Huy T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần với khối lượng ma túy thu giữ đã xác định được là 0,329 gam Heroine.

Ngày 30/9/2024 tại nhà của Nguyễn Văn X ở khu xóm Đ, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ, X có hành vi tàng trữ 1,479 gam Heroine và 0,450 gam Methamphetamine để bán kiếm lời. Ngoài ra, X có hành vi bán ma túy cho T 02 lần: Ngày 27/9/2024, X bán cho T 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng, T đã trả cho X số tiền 400.000 đồng, còn nợ lại 100.000 đồng. Ngày 30/9/2024, X bán cho T 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng; 03 lần Xuyến bán ma túy cho Nguyễn Văn T4 vào các ngày 21, 22 và 25/9/2024, mỗi lần X bán cho T4 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng, tổng là 03 gói = tiền 600.000 đồng. Các lần thỏa thuận mua bán ma tuý giữa X và T; X và T4 như nêu đã trên đều chỉ thoả thuận về số tiền, loại ma tuý mua bán và không thoả thuận, thống nhất gì về khối lượng ma tuý mua bán nên không xác định được khối lượng ma túy. Nguyễn Văn X phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần với khối lượng ma túy thu giữ đã xác định được là 1,808 gam Heroine và 0,450 gam Methamphetamine.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo L không tranh luận. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo đều phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định:

“...

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên; ...”

[3] Về tính chất hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân gây ra các tội phạm nguy hiểm cho xã hội. Vì lẽ trên cần phải được xét xử nghiêm minh nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Công L có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “đánh bạc” nhưng đã được xóa án tích; bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải. Bị cáo tự thú, khai báo hành vi bán ma tuý trái phép cho Nguyễn Huy T vào ngày 28/9/2024 trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Huy T có nhân thân xấu, đã bị kết án về các tội “trộm cắp tài sản” và “đánh bạc”, nhưng đã được xóa án tích. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có bố đẻ là ông Nguyễn Huy T1 được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba nên bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn X không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn X đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo tự thú, khai báo hành vi bán ma tuý trái phép cho Nguyễn Văn T4 vào các ngày 21, 22 và 25/9/2024 trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với các bị cáo thấy rằng: Nguyễn Văn X, Nguyễn Huy T và Nguyễn Công L sống phụ thuộc vào gia đình, làm lao động tự do, không xác định được mức thu nhập cụ thể và không có tài sản riêng, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Đối với Nguyễn Văn T4 và Thái Đức T5 là người nghiện chất ma túy, trong đó T4 đã 03 lần mua ma túy Heroine của bị cáo X các ngày 21, 22, 25/9/2024 và đã sử dụng cho bản thân hết. Còn T5 02 lần hỏi mua ma túy Heroine của bị cáo L, đã mua được ma túy của L 01 lần ngày 28/9/2024 và đã sử dụng cho bản thân hết. Bản thân T4 và T5 đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án các tội về ma túy. Ngày 12/12/2024, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 3.500.000 đồng đối với T4 và phạt tiền 1.500.000 đồng đối với T5 là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo Nguyễn Huy T ngày 27/9/2024, Nguyễn Công L ngày 28/9/2024 và Nguyễn Văn X ngày 29/9/2024, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định pháp luật.

Đối với chị Trần Thị Phương K1 - sinh năm 1979, trú tại khu Q, thị trấn C, huyện C là người đã chuyển khoản hộ Thái Đức T5 số tiền chuyển khoản hộ 600.000 và đã được T5 trả lại số tiền này. Quá trình điều tra xác định chị K1 không biết, không liên quan đến hành vi mua ma túy của T5, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với anh Đặng Quốc T6 có cho Thái Đức T5 mượn chiếc điện điện thoại di động Masstel. Trong các ngày 28/9/2024 và ngày 30/9/2024 T5 có sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc hỏi mua ma túy của bị cáo L. Quá trình điều tra xác định anh T6 không biết và không liên quan đến hành vi mua ma túy của T5, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với bà Nguyễn Thị C có cho Nguyễn Công L mượn chiếc mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 19G1-508.20 để đi mua và bán ma túy ngày 30/9/2024. Quá trình điều tra xác định bà C1 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của L, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với người người nam giới đã bán ma túy cho Nguyễn Văn X các ngày 20/9/2024 và ngày 26/9/2024 tại khu vực chân cầu T thuộc phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ của người này, nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,231 gam Heroine, Cơ quan giám định đã lưu mẫu hết 0,093 gam, còn lại 0,138 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định thu giữ của Nguyễn Công L khi bắt quả tang, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 1,479 gam Heroine và 0,450 gam Methamphetamine, Cơ quan giám định đã lưu mẫu hết 0,20 gam (Heroine), còn lại 1,279 gam (Heroine) chất bột, cục màu trắng và lưu mẫu hết 0,50 gam (Methamphetamine), còn lại 0,300 gam (Methamphetamine) viên nén màu hồng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định do Nguyễn Văn X giao nộp khi triệu tập làm việc, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 0,098 gam Heroine, Cơ quan giám định đã lưu mẫu hết 0,025 gam, còn lại 0,073 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định thu giữ của Nguyễn Huy T khi khám xét, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng thu giữ của L, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại SAM SUNG Galaxy A03S màu xanh, màu hình bị nứt vỡ đã qua sử dụng, trong có lắp sim số thuê bao 0928.840.598 thu giữ Lan; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh đã qua sử dụng, trong có lắp sim số thuê bao 0963.631.223 thu giữ của T; 01 điện thoại Iphone X màu trắng đã qua sử dụng, trong có lắp sim số thuê bao 0964.676.182 (Sim đăng ký tên anh trai X là anh Nguyễn Văn T8 (đã chết)); 01 điện thoại TCL408, trong có lắp sim số 0388.978.949 thu giữ Nguyễn Văn T4; 01 sim điện thoại số thuê bao 0365.783.xxx thu giữ của Thái Đức T5. Đây là những tài sản đã sử dụng vào liên lạc khi trao đổi mua bán ma túy, do vậy cần tịch thu các điện thoại này để sung quỹ nhà nước, các sim điện thoại do không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ.

Đối với số tiền 1.000.000đ thu giữ của T và X1, đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có, cần tịch thu xung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền các bị cáo bán ma túy chưa tịch thu được cần truy thu để nộp ngân sách nhà nước theo quy định.

Đối với 01 điện thoại SAM SUNG Galaxy J6+, màu xanh màn hình bị nứt vỡ đã qua sử dụng, trong có lắp sim số 0325.401.695 thu giữ của X và 01 điện thoại Masstel màu xanh đã qua sử dụng, trong có lắp sim số 0971.440.862 thu giữ của T. Đây là những tài sản riêng của X và T không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 mô tô Honda Wave màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 19G1-508.20 đã thu giữ của L, đây là xe L sử dụng làm phương tiện đi lại để thực hiện hành vi bán ma túy cho Thái Đức T5. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị C - sinh năm 1956, trú tại khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C, là mẹ đẻ cho bị can L mượn để đi lại. Ngày 07/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô cho bà C là đúng quy định pháp luật, cần xác nhận.

Đối với 01 điện thoại di động Masstel, màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Thái Đức T5. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản riêng của anh Đặng Quốc T6 - sinh năm 1982, trú tại khu V, xã Đ, huyện C cho T5 mượn để sử dụng liên lạc hàng ngày. Việc T5 sử dụng điện thoại và sim để mua ma túy của L, anh T6 không biết nên ngày 12/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý đồ vật, tài sản, trả lại điện thoại cho anh T6 là đúng quy định pháp luật, cần xác nhận.

[10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo và việc xử lý vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên cần được chấp nhận.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo L thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí, bị cáo T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L, bị cáo T theo quy định của pháp luật.

Bị cáo X chịu án phí theo quy định.

Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công L 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy T 7 (Bẩy) năm 8 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.

  3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn X 7 (Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b, c khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    1. Tịch thu tiêu hủy:
      • - 0,138 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định thu giữ của Nguyễn Công L, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.
      • - 1,279 gam (Heroine) chất bột, cục màu trắng và 0,300 gam (Methamphetamine) viên nén màu hồng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định thu giữ của Nguyễn Văn X, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.
      • - 0,073 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định thu giữ của Nguyễn Huy T, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.
      • - 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng thu giữ của L.
      • - Sim số điện thoại 0928.840.xxx thu giữ Nguyễn Công L; Sim số điện thoại 0963.631.xxx thu giữ của Nguyễn Huy T; Sim số 0964.676.182 thu giữ của Nguyễn Văn X; Sim số 0388.978.949 thu giữ Nguyễn Văn T4; Sim số 0365.783.990 thu giữ của Thái Đức T5.
    2. Tịch thu xung quỹ nhà nước:
      • - 01 điện thoại SAM SUNG Galaxy A03S màu xanh, màu hình bị nứt vỡ đã qua sử dụng thu giữ L;
      • - 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của T.
      • - 01 điện thoại Iphone X màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của X
      • - 01 điện thoại TCL408 thu giữ của Nguyễn Văn T4
      • - Tiền: 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ Nguyễn Văn X, 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Huy T
    3. Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại SAM SUNG Galaxy J6+, màu xanh màn hình bị nứt vỡ đã qua sử dụng, trong có lắp sim số 0325.401.695 thu giữ của X và 01 điện thoại Masstel màu xanh đã qua sử dụng, trong có lắp sim số 0971.440.862 thu giữ của T.
    4. Truy thu của Nguyễn Công L 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Truy thu của Nguyễn Huy T 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); Truy thu của X 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
    5. Xác nhận:
      • - Đã trả lại 01 mô tô Honda Wave màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 19G1-508.20 thu giữ của Nguyễn Công L cho bà Nguyễn Thị C (Theo quyết định trả vật chứng số 12/QĐ-ĐCSHSKTMT ngày 07/01/2025 và biên bản trả lại tài sản, đồ vật tài liệu ngày 07/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C).
      • - Đã trả lại 01 điện thoại di động Masstel, màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Thái Đức T5 cho anh Đặng Quốc T6 (Theo quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 1328/QĐ-ĐCSHSKTMT ngày 12/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C).
  5. Về án phí:
    • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Công L, Nguyễn Huy T.
    • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1, điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn X phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Cẩm Khê;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Phú Thọ;
  • - THADS huyện Cẩm Khê;
  • - THAHS công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ+VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HSST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger