|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 07 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Thái; Ông Huỳnh Văn Tý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/HS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T (Nguyễn Thị Thê E), sinh năm 1966. Nơi thường trú: Khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết), bà Nguyễn Thi N1 (đã chết); chung sống như vợ chồng với Huỳnh Công T1, sinh năm 1959; Chưa có con.
Tiền án: Ngày 23/5/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, ngày 25/10/2009 chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa thực hiện đóng án phí.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 26/7/1994, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Xuyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985, sửa đổi bổ sung năm 1989, đã chấp hành xong bản án.
- Ngày 16/5/2002, bị Ủy ban nhân dân tỉnh A ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, trong thời hạn 24 tháng, về hành vi gây rối trật tự công cộng và môi giới mại dâm, đến ngày 16/5/2004 chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Huỳnh Văn T2 sinh năm 1974. Nơi cư trú: Ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Anh Hồ Tấn Đ, ông Nguyễn Văn T3, anh Lê Thái P (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 27/10/2024, Nguyễn Thị T một mình đi bộ đến khu vực ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang thấy anh Huỳnh Văn T2 dựng xe mô tô biển số 67H3-8642 trước trại lá đối diện nhà của T2, chìa khoá T2 cắm trên ổ khóa, T quan sát xung quanh không người trông coi nên T đi đến bật công tắt xe điều khiển chạy về hướng Kiên Giang. Cùng lúc này, T2 phát hiện tri hô trộm và cùng Hồ Tấn Đ, Nguyễn Văn T3 đuổi theo T khoảng 800m thì T bỏ lại xe mô tô chạy bộ vào ruộng bị T2, Đ, T3 và Lê Thái P đuổi theo bắt giữ T giao cho Công an xã V lập biên bản và thu giữ vật chứng.
Ngày 04/11/2024, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T khởi tố để điều tra.
* Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: Xe mô tô biển số 67H3-8642, nhãn hiệu ROMANTIC, số loại 110 trị giá 5.000.000 đồng.
* Kết luận giám định số 1655/KL-KTHS (KT-GT) ngày 05/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, xác định: Dấu vân tay in trên bộ danh chỉ bản số 240, lập ngày 06/11/2024 tại Công an huyện T viết tên Nguyễn Thị T (tên gọi khác Nguyễn Thị Thê E) sinh năm 1966, nơi thường trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang, ký hiệu TLCGĐ: A so với dấu vân tay in trên 04 bộ danh, chỉ bản số 11831, lập ngày 23/06/1988 tại Công an tỉnh A viết tên Thái Thị Thu T4, sinh năm 1966; số 20502 lập ngày 16/05/1994 tại L, An Giang viết tên Thái Thị Thu T5, sinh năm 1966; số 00664, lập ngày 17/05/2002 tại Công an huyện T, tỉnh An Giang viết tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; số 00946, lập ngày 30/01/2008 tại Công an huyện T, tỉnh An Giang viết tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1966, ký hiệu TLMSS: M1 – M4 là của cùng một người in ra.
* Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng:
Huỳnh Văn T2, Hồ Tấn Đ, Nguyễn Văn T3, Lê Thái P trình bày phù hợp như nội dung vụ án đã nêu. T2 đã nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường thêm.
* Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 67H3-8642, nhãn hiệu ROMANTIC, số loại 110, màu xanh.
Ngày 04/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả xe mô tô biển số 67H3-8642, nhãn hiệu ROMANTIC, số loại 110, màu xanh cho anh Huỳnh Văn T2.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSTS, ngày 21/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T (Nguyễn Thị Thê E) về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T (Nguyễn Thị Thê E) mức án từ 01 năm đến 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Hình phạt bổ sung: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- Tại phiên toà, bị hại ông Huỳnh Văn T2 và những người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của ông T2 và những người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 27/10/2024, tại ấp S, xã V, huyện T, Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô biển số 67H3-8642, trị giá 5.000.000 đồng của anh Huỳnh Văn T2.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về hành vi cùng loại tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Ngày 04/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả xe mô tô biển số 67H3-8642, nhãn hiệu ROMANTIC, số loại 110, màu xanh cho anh Huỳnh Văn T2 nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T (Nguyễn Thị Thê E) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T (Nguyễn Thị Thê E) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27-10-2024).
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị T (Nguyễn Thị Thê E) phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Vân |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội "Trộm cắp tài sản", 1 năm 6 tháng từ giam
