|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HS-PT |
Ngày: 04/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Bằng, bà Vũ Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thơi - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Quý P, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Quý P, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị S; có vợ là Phạm Thị G và 03 con; tiền án: Không; có 01 tiền sự: Ngày 21/12/2023, UBND huyện C, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” với hình thức phạt tiền, bị cáo chưa chấp hành quyết định; nhân thân: Ngày 04/11/2020, UBND xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng công cụ gây thương tích cho các thành viên gia đình”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/5/2024 đến ngày 06/8/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Chu Thanh N - Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh H (địa chỉ: Số A đường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương), có mặt.
Nguyên đơn dân sự: Công ty Cổ phần C; địa chỉ: Số A đường L, khu đô thị E, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương (không triệu tập tham gia phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2018, Công ty cổ phần C (Công ty C); địa chỉ: số A, đường L, khu đô thị E, phường H, thành phố H chốt nhầm số công tơ trên đồng hồ nước của hộ gia đình Nguyễn Quý P 02 m³ nước. Dựa vào việc này, P đã yêu cầu Công ty C phải đưa cho P số tiền 22.000.000 đồng để Phái bỏ qua sự việc nhầm lẫn trên nhưng Công ty C không đồng ý. Ngày 17/10/2018, Công ty C có văn bản xin lỗi về sự nhầm lẫn trên đối với hộ gia đình Nguyễn Quý P nhưng P vẫn không đồng ý. Từ khoảng tháng 02/2019 đến tháng 9/2023, P sử dụng nước sinh hoạt do Công ty C cung cấp với số nước tiêu thụ quy thành tiền là 6.125.175 đồng nhưng không trả tiền, Công ty C đã nhiều lần gửi thông báo nhắc nhở việc đóng tiền nước sinh hoạt và sẽ ngừng cấp nước đến hộ gia đình P nhưng P vẫn không nộp tiền nên từ tháng 10/2023 Công ty C đã ngừng cấp nước sinh hoạt đến hộ gia đình Nguyễn Quý P. Do bị Công ty C cắt nước nên P đã tự ý đục phá, đấu nối đường ống nước của nhà mình vào đường ống cấp nước của Công ty C để lấy nước sinh hoạt. Khi biết P tự ý đục phá đấu nối nước, Công ty C đã sửa chữa, cắt bỏ việc đấu nối thì P lại đục phá đấu nối nước trái phép để sử dụng. Do vậy, Công ty C đã gửi báo cáo đến Công an xã N, huyện C Công an xã N đã lập hồ sơ đề nghị UBND huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P. Ngày 21/12/2023, UBND huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” đối với P (mức tiền phạt là 5.000.000 đồng), P không đồng ý, không chấp hành Quyết định. Do P không nộp tiền nước sinh hoạt còn nợ đọng nên ngày 22/12/2023, Công ty C có văn bản chấm dứt vĩnh viễn dịch vụ cấp nước đối với hộ gia đình Nguyễn Quý P. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2023 đến ngày 09/02/2024, P đã có 05 lần đục phá đường ống nước DN40 của Công ty C, đấu nối nước trái phép vào đường ống nước của nhà mình để sử dụng, cụ thể như sau: Vào sáng ngày 22/12/2023, sáng ngày 25/12/2023 và trưa ngày 07/02/2024 tổ công nhân sửa chữa lắp đặt khu vực N, C của Công ty C đi kiểm tra, phát hiện đường ống nước ngầm DN40 tại vị trí cạnh bờ tường nhà ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963, ở thôn C, xã N, huyện C bị P đục phá, đấu nối trái phép vào đường ống nước của gia đình P. Sau khi phát hiện, tổ công nhân đã báo cáo lãnh đạo Công ty C và được lãnh đạo công ty chỉ đạo tháo điểm đấu nối trái phép, tiến hành bịt đường ống bị đục phá, hoàn trả mặt bằng bê tông tại điểm đấu nối. Tổ công nhân đã thực hiện ngay việc sửa chữa, tháo bỏ đường ống nước đấu nối trái phép, bịt đường ống nước ngầm DN40, hoàn trả bê tông mặt đường. Đến 11 giờ ngày 09/02/2024, Công ty C nhận được báo cáo từ nhân viên quản lý khu vực xã N về việc đường ống nước ngầm DN40 của Công ty C cạnh bờ tường nhà ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963, ở thôn C, xã N bị P đục phá để đấu nối nước trái phép vào đường ống nước của nhà P. Công ty C đã cử tổ công nhân sửa chữa đến khắc phục nhưng bị P cản trở, Công ty C đã báo Công an xã N đến lập biên bản vụ việc. Khoảng 16 giờ cùng ngày sau khi tổ công nhân sửa chữa của công ty C hoàn thành việc khắc phục sửa chữa đường ống nước DN40 bị Phái phá, P tiếp tục có hành vi dùng dụng cụ (thanh kim loại, đục kim loại) cậy phá bê tông, đục phá đường ống nước ngầm để đấu nối nước trái phép vào đường ống nhà mình để sử dụng. Ngày 10/02/2024, Công ty C có đơn trình báo đến Công an xã N, ngày 04/3/2024, Công an xã N chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C để giải quyết theo thẩm quyền.
Biên bản kiểm tra hiện trường ngày 10/02/2024 của Công an xã N xác định: Hiện trường thuộc khu vực đường T, xã N. Tại vị trí cách bờ tường nhà ông Nguyễn Văn T 68cm, cách ngõ bên phải nhà ông T 4,8m, cách bờ tường giáp ranh giữa nhà ông T và nhà bà L 7,6m là vị trí bê tông bị đục phá, đất đá được đào lên làm lộ đường ống nước ngầm chôn cách mặt đất 25cm. Đường ống nước ngầm DN40 bị đục 01 lỗ nham nhở dạng lục giác có chiều dài 1,5cm, từ lỗ bị đục này có 01 đường ống nước bằng cao su màu đen đấu nối trực tiếp vào đường ống nước ngầm DN40 của Công ty C, đường ống này vắt qua cành cây trên cao nối vào đồng hồ nước nhà Nguyễn Quý P ở đối diện để nhà P sử dụng nước trái phép. Công an xã N đã quản lý 04 đoạn video ghi lại diễn biến sự việc Nguyễn Quý P có hành vi, lời nói cản trở công nhân của Công ty C sửa chữa đường ống nước ngầm bị Phái đục phá vào chiều ngày 09/2/2024 do anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974, ở khu T, thị trấn C, huyện C giao nộp.
Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG-TTHS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C ngày 14/3/2024, kết luận: Đường ống nước ngầm DN40 của Công ty C bị hư hỏng thiệt hại vào ngày 09/02/2024 có giá trị là 2.198.424 đồng.
Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG-TTHS ngày 05/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Đường ống nước ngầm DN40 của Công ty C bị hư hỏng thiệt hại vào ngày 22/12/2023 có giá trị là 901.000 đồng, đường ống nước ngầm DN40 của Công ty C bị hư hỏng thiệt hại vào ngày 25/12/2023 có giá trị là 541.000 đồng, đường ống nước ngầm DN40 của Công ty C bị hư hỏng thiệt hại vào ngày 07/02/2023 có giá trị là 471.000 đồng. Tổng tài sản Nguyễn Quý P cố ý làm hư hỏng thiệt hại bị phát hiện vào các ngày 22/12/2023, 25/12/2023, 07/02/2024 có tổng trị giá là 1.913.000 đồng.
Bản kết luận giám định số 268/KLGĐ ngày 07/10/2024 của V, kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo Nguyễn Quý P bị bệnh động kinh toàn thể cơn lớn chưa có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6. Tại các thời điểm trên bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 12/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quý P phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; xử phạt bị cáo 08 tháng tù, được trừ 89 ngày đã bị tạm giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 23/12/2024, bị cáo P kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo đã nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/12/2023, Nguyễn Quý P bị UBND huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2023 đến ngày 09/02/2024 tại vị trí đường ống nước ngầm DN40 cạnh nhà ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963, ở thôn C, xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Quý P đã 05 lần có hành vi dùng dụng cụ đục phá đường ống nước ngầm DN40 của Công ty C, đấu nối trái phép vào đường ống nước của nhà mình để sử dụng nước, tổng giá trị thiệt hại tài sản Nguyễn Quý P gây ra là 4.111.424 đồng. Với hành vi nêu trên, bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Về tội danh bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Căn cứ vào nhân thân, tính chất hành vi bị cáo đã thực hiện thì việc áp dụng một hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và ngăn ngừa đấu tranh chống tội phạm. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức còn hạn chế do bị động kinh cơn lớn, đến nay đã thực sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự tại cấp phúc thẩm. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên HĐXX có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giảm cho bị cáo một phần hình phạt so với bản án sơ thẩm thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên tòa phúc thẩm. Để đảm bảo thi hành án, HĐXX quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quý P. Sửa bản án sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Quý P.
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quý P 05 (năm) tháng tù, được trừ 89 ngày đã bị tạm giam (từ ngày 10/5/2024 đến ngày 06/8/2024), bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) tháng, 01 (một) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa để đảm bảo thi hành án.
[2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quý P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lâm |
Bản án số 19/2025/HS-PT ngày 04/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Số bản án: 19/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 21/12/2023, Nguyễn Quý P bị UBND huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2023 đến ngày 09/02/2024 tại vị trí đường ống nước ngầm DN40 cạnh nhà ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963, ở thôn C, xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Quý P đã 05 lần có hành vi dùng dụng cụ đục phá đường ống nước ngầm DN40 của Công ty C, đấu nối trái phép vào đường ống nước của nhà mình để sử dụng nước, tổng giá trị thiệt hại tài sản Nguyễn Quý P gây ra là 4.111.424 đồng
