TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đắc Tư
Bà Đoàn Sơn Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Y - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phùng Văn T, sinh ngày 13/10/1998, Nơi sinh: T, An Giang; Nơi cư trú: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn C, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H, không xác định năm sinh; anh chị em ruột: không có; tiền án. Tiền sự không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 15/12/2024 cho đến nay (Bị cáo có mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1971. Nơi cư trú: số D, ấp E, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Bảo N, sinh năm 2004; Nơi cư trú: số D, ấp E, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 18 giờ ngày 10/12/2024, Phùng Văn T một mình đi bộ trên đường giao thông nông thôn hướng từ thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang về huyện V, khi đến ấp E, xã T nhìn thấy nhà ông Nguyễn Kim Đ không có ai trông coi nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà tìm tài sản lấy trộm. T lấy một cây kéo có sẵn ngoài sân cắt phần tôn bên mái hiên nhà phụ để đi vào, khi vào trong thấy có camera quan sát nên T đến rút dây điện tắt camera ra rồi đi xung quanh lục tìm tài sản, T phát hiện trong hộp lon để trên bàn có tiền mặt nên lấy bỏ vào túi quần, sau đó đi lên nhà chính thấy có 01 xe mô tô tay ga loại Vision, biển số 65L1 – 484.74 không gắn chìa khóa, T đi vô phòng ngủ tìm được chìa khóa gắn vào xe dắt ra ngoài điều khiển chạy về hướng huyện T để thuê nhà trọ ở. Ngày 14/12/2024 T điều khiển xe đến xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang thuê nhà trọ ở thì bị công an phát hiện.
Căn cứ vào Kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐGTS, ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện V kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision màu xám đen, biển số 65L1 – 484.74, số máy JK03E8163616, số khung RLHJK0351PY039424, trị giá: 32.309.750 đồng.
Về tang vật: Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ, nhập kho vật chứng các tang vật có liên quan theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đ yêu cầu được nhận lại tài sản bị mất là 900.000 đồng, bị cáo T đồng ý bồi thường nhưng chưa có khả năng bồi thường.
Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSVT ngày 07/02/2025 và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội trộ cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung miễn cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông N1 đã nhận lại 01 xe mô tô hiệu Vision màu xám đen biển số 65L1 – 484.74 và yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 900.000 đồng. Nhưng tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại có ý kiến không yêu cầu bị cáo trả lại nên đề nghị hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 áo sơ mi tay dài màu trắng, đen bông, 01 quần Jean dài bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt, trong quá trình điều tra đã có lời khai, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án; vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Trong quá trình và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phùng Văn T thừa nhận đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của bị hại là anh Nguyễn Kim Đ trong việc quản lý tài sản, đã lén lúc đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản có tổng giá trị là 33.209.750 đồng (gồm 900.000 đồng và 01 xe mô tô được định giá 32.309.750 đồng). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự địa phương chỉ vì chay lười lao động mà muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý lấy trộm xe của ông Đ. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng đối với bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhưng phải đảm bảo đủ dài để bị cáo ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình và tiếp tục học tập, tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và cũng răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
[4] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng: Công nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đ 01 xe mô tô hiệu Vision màu xám đen biển số 65L1 – 484.74.
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu trắng, đen bông, 01 quần Jean dài.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đ đã nhận lại xe, trước đây có yêu cầu bị cáo trả lại 900.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử ông Đ có gửi đơn xét xử vắng mặt, đồng thời có ý kiến không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 900.000 đồng đây là sự tự nguyện của bị hại nên hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[8] Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 15/12/2024.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại về việc không yêu cầu bị cáo trả lại 900.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung miễn cho bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu trắng, đen bông, 01 quần Jean dài.
(Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số:17/QĐ-VKSVT ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ).
Về án phí: Bị cáo Phùng Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Minh Đức |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TP. CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TP. CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn Thịnh bị kết án một năm tù
