|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày: 26/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Diệm; ông Trần Kim Thành.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Y Van - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: NGUYỄN ĐỨC T PHƯỚC; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1994 tại tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: ấp A, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hồng Đ, sinh năm: 1959 và bà Nguyễn Thị Phương L (đã chết); Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Bản án số 45/2021/HSST, ngày 24/6/2021 bị Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/7/2022, án phí nộp ngày 20/12/2021.
- Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng số 3885/QĐ-UB, ngày 17/7/2009 của Ủy ban nhân dân thị xã Đ, thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 20/7/2011.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: NGUYỄN XUÂN T1, T2 gọi khác: không; Sinh năm 1983 tại tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Xuân T3 (đã chết) và bà Hồng Thị T4, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 và 01 người con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Liêng Hót Ha N1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
- Người làm chứng: Trần Phước T5, sinh năm 1991; Nơi cư trú: ấp A, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
-Người chứng kiến:
- Trần Thị Hồng H, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Nguyễn Văn L1, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 07/2023 Nguyễn Đức T P đến thuê phòng trọ số 22 nhà trọ Toàn Thắng của bà Trần Thị Hồng H thuộc khu phố T, phường T để sinh sống một mình. Đến khoảng 20 giờ ngày 20/10/2024 P gọi điện thoại cho một người thanh niên tên T6 (chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) để hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá thì T6 đồng ý bán, sau khi mua được ma tuý P cất giấu gói ma túy vào trong người rồi đi bộ về lại phòng trọ của mình, khi về đến phòng trọ thì P lấy gói ma túy vừa mua được trích ra một ít ma túy bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế rồi một mình sử dụng hết số ma túy có trong bộ dụng cụ, số ma túy còn lại P cất giấu gói ma túy vào trong chiếc hộp bằng giấy màu đen để ở trên góc phòng trọ.
Đến khoảng 13 giờ ngày 21/10/2024 khi P đang ở trong phòng trọ thì có Nguyễn Xuân T1 đến phòng trọ của Phước chơi, khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày có thêm Trần Phước T5 cũng đến phòng trọ của P chơi. Tại đây T5 hỏi P mua 300.000 đồng tiền ma túy đá thì P đồng ý bán, P lấy gói ma túy đá đang cất giấu ở trong chiếc hộp bằng giấy màu đen để ở trên nền phòng trọ bán cho T5, số tiền 300.000 đồng T5 hẹn một lúc nữa sẽ trả thì P đồng ý. Sau khi bán ma túy cho T5 xong P nói với T1 về việc không còn tiền mua ma túy để sử dụng, nghe vậy T1 nói
với P để T1 cho mượn tiền mua ma túy và chuyển khoản số tiền 1.300.000 đồng cho P mượn để mua ma túy. Sau khi mượn được tiền từ T1, P gọi điện thoại cho T6 để hỏi mua 1.300.000 đồng tiền ma túy đá và hẹn gặp ở đoạn đường đối diện bến xe T thuộc khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để giao dịch. Lúc này do không có xe để đi mua ma túy nên P kêu T1 cho mượn xe để đi mua ma túy thì T1 đồng ý và đưa xe mô tô hiệu Yamaha exciter, biển số 59X2 – 342.46 cho P đi mua ma túy, còn T1 và T5 vẫn ở lại phòng trọ của P. Trên đường đi P đã rút số tiền 1.300.000 đồng từ trong tài khoản rồi đi đến chỗ hẹn thì gặp Tó đang đứng chờ sẵn, tại đây P đưa cho T6 số tiền 1.300.000 đồng tiền mua ma túy, nhận tiền T6 đưa lại cho P 01 bọc nylon bên trong chứa ma túy đá rồi T6 bỏ đi còn P cất giấu bọc ma túy vào trong người rồi điều khiển xe đi về lại phòng trọ của mình. Khi về đến phòng trọ thấy T1 và T5 vẫn đang ở trong phòng trọ nên P lấy bọc ma túy vừa mua được cất giấu vào trong chiếc hộp bằng giấy màu đen để ở trên nền phòng trọ, sau đó Trọng bỏ đi về hẹn lát nữa sẽ quay trở lại trả tiền mua ma túy thì P đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày sau khi sử dụng hết số ma tuý mua của P thì T5 quay lại phòng trọ của P, tại đây T5 đưa cho P số tiền 300.000 đồng trả tiền trước đó mua ma túy của P, sau đó P cùng với T5 và T1 tiếp tục ngồi chơi trong phòng trọ. Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày thì lực lượng Công an thành phố Đ đến phòng của P kiểm tra hành chính phát hiện có ma tuý và lập biên bản bắt quả tang cùng tang vật. (Bút lục 01-05; 92-106; 120-138; 142-147)
* Tại bản kết luận giám định số 1144/KL-KTHS ngày 28/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 2,2325 gam (hai phẩy hai ba hai năm gam).
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ. (Bút lục 16).
* Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Đức Tài P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Xuân T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T Phước mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T Phước mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt chung của 02 tội đối với bị cáo Nguyễn Đức T Phước mức án từ 04 năm 03 tháng đến 04 năm 09 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo bị cáo Nguyễn Xuân T1 mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung không áp dụng;
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các công cụ bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng và số tiền 300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Đức T P; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T1 01 (một) điện thoại di di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen đã qua sử dụng.
*Các bị cáo Nguyễn Đức Tài P, Nguyễn Xuân T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận; lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa Nguyễn Đức Tài P, Nguyễn Xuân T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đối chiếu lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với vật chứng vụ án, kết luận giám định số 1144/KL-KTHS ngày 28/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 2,2325 gam (hai phẩy hai ba hai năm gam). Phù hợp với bản kết luận điều tra cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; phù hợp về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 20/10/2024, Nguyễn Đức T Phước mua 500.000 đồng ma tuý đá của đối tượng tên T6 (không rõ nhân thân, lai lịch) về lấy ra một ít sử dụng, số còn lại cất giấu vào hộp bằng giấy màu đen, đến 15 giờ 45 phút ngày 21/10/2024 Trần Phước T5 đến hỏi mua 300.000
đồng ma tuý và trả tiền sau, P đồng ý bán và lấy số ma tuý còn lại giao cho T5. Cùng ngày 21/10/2024, Nguyễn Văn T7 đến phòng trọ của P và chuyển khoản cho P mượn số tiền 1.300.000 đồng cùng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu xanh trắng biển số 59X2 - 342.46 để P đi mua ma tuý về mục đích được cùng sử dụng; P gặp T6 mua 1.300.000 đồng ma tuý về cất vào hộp giấy màu đen tại phòng trọ, đến 16 giờ 45 phút cùng ngày P và T7 bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Hành vi của Nguyễn Đức Tài P thực hiện cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Xuân T1 thực hiện cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét về lỗi, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bản thân đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn nhận thức được ma túy là chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý và cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu vụ lợi của bản thân các bị cáo đã cố tình thực hiện, đây là hành vi vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển lành mạnh của công dân.
[4]. Trong vụ án có đồng phạm với tính chất giản đơn, cần phân tích vai trò của từng bị cáo để cá thể hoá hình phạt:
Đối với Nguyễn Đức T P là chủ mưu, trực tiếp đi mua ma túy về mục đích sử dụng và bán cho Trần Phước T5; mượn tiền và xe mô tô của bị cáo Nguyễn Xuân T1 đi mua 1.300.000 đồng ma tuý về để sử dụng. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, năm 2022 mới chấp hành xong hình phạt tù cùng về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không có hướng sửa chữa, nay tiếp tục phạm tội nghiêm trọng hơn nên phải chịu mức án nghiêm khắc với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Đối với Nguyễn Xuân T1 là đồng phạm giúp sức cho bị cáo P, khi nghe P nói hết ma tuý để sử dụng bị cáo chủ động cho P mượn số tiền 1.300.000đồng đưa xe cho P dùng làm phương tiện đi mua ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ được P mua ma tuý về sử dụng nhưng vẫn tiếp tay cho P với mục đích được sử dụng chung ma tuý, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi đồng phạm giúp sức với bị cáo P về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, do hành vi và hậu quả các bị cáo gây ra cần xử phạt các bị cáo với hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi
lượng hình theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Xuân T1 có nhân thân tốt, chú ruột là ông Nguyễn Xuân T8 là liệt sỹ, ông nội Nguyễn Xuân B và bà nội Nguyễn Thị D là người có công với cách mạng nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[5]. Đối với các đối tượng sử dụng ma túy:
- Trần Phước T5 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
- Đối tượng tên T6 là người bán ma tuý cho Nguyễn Đức T Phước vào ngày 21/10/2024 không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
- Bà Trần Thị Hồng H, chủ nhà trọ Toàn T9 đã cho bị cáo P thuê nhà nhưng không biết các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tại phòng trọ đã cho thuê, vì vậy không đề cập xử lý.
- Đối với ông Liêng Hót Ha N1, chủ sở hữu hợp pháp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu: Xanh trắng, Số khung: RLCE55P10DY208416, Số máy: 55P1208434. Ông N1 cho bị cáo T1 mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại vào đầu năm 2023, ông N1 không biết T1 cho P mượn xe sử dụng vào hành vi phạm tội, do đó không đề cập xử lý đối với ông N1.
[6]. Vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu: Xanh trắng, Số khung: RLCE55P10DY208416, Số máy: 55P1208434; xe đã qua sử dụng ngày 14/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông L2 Hót Ha N1 là đúng quy định.
- 01 (một) hộp màu đen đã cũ; 01 (một) kéo kim loại đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) cân điện tử màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế gồm: 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, 01 nỏ thuỷ tinh; 01 (một) quẹt ga màu trắng đã qua sử dụng; 01 bì thư còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong số 1144M ngày 22/10/2024 có đóng dấu giáp lai và 01 túi nylon đây là công cụ các bị cáo sử dụng ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.
- 01 biển số 59X2 – 342.46 là biển số xe của bà Đặng Thị Ngọc C bà C không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng, số tiền 300.000 đồng thu của Nguyễn Đức T P là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen thu giữ của Nguyễn Xuân T1 không liên quan đến vụ án, trả lại cho bị cáo T1.
[7]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Nguyễn Đức Tài P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Nguyễn Xuân T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Đức T Phước 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Đức T P 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc Nguyễn Đức T Phước phải chấp hành là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Xuân T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024.
3. Vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp màu đen đã cũ; 01 (một) kéo kim loại đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) cân điện tử màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế gồm: 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, 01 nỏ thuỷ tinh; 01 (một) quẹt ga màu trắng đã qua sử dụng; 01 bì thư còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong số 1144M ngày 22/10/2024 có đóng dấu giáp lai và 01 túi nylon và 01 biển số 59X2 – 342.46.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng và 300.000 đồng thu của Nguyễn Đức Tài P.
- Trả lại cho Nguyễn Xuân T1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002306, ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài và Uỷ nhiệm chi ngày 07/02/2025 của Công an thành phố Đ).
4. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Huệ |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "mua bán trái phép chất ma tuý" và tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
