Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 26/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Liên
  2. Ông Bùi Hữu Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 277/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Ngọc Quang T, sinh năm 2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: A B, phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 1 T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thuần H, sinh năm 1973; vợ, con: không.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 30/9/2024 cho đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  2. Mai Minh Đ, sinh năm 2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 783/29 C, phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 7 C, phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Học viên; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông: Mai Quốc K, sinh năm 1968 và bà Trần Thị Thu H1, sinh năm 1968; vợ, con: không.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 30/9/2024 cho đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 27/09/2024, Nguyễn Ngọc Quang T điều khiển xe máy Honda Vario, biển số: 59P3-308.35 chở Mai Minh Đ đến quán Cà phê “Mimosa” tại địa chỉ số I lô L, chung cư B, Đường số A, phường A, quận T để uống cà phê. Tại đây, “Nguyễn Quang T2” ngồi uống cà phê kế bên bàn của T và Đ, T2 hỏi T và Đ “có mua cần sa sử dụng không, mỗi đứa 75.000 đồng thôi”, T hỏi Đ mua không thì Đ đồng ý, Đ đưa T 75.000 đồng và T góp thêm 75.000 đồng tổng là 150.000 đồng đưa cho T2, sau đó, T2 đưa cho T 01 gói nylon chứa hoa lá cành khô cần sa. T lấy cối xay bằng kim loại và giấy cuốn trong túi xách mang theo để xay cần sa và cuốn cần sa thành điếu, sau đó T đốt điếu cần sa trên, T và Đ chuyền tay nhau hút hết điếu cần sa tại quán cà phê “Mimosa”, số ma tuý cần sa còn lại T cất giấu trong túi xách màu đen của T. Sau khi cùng nhau sử dụng ma tuý cần sa, T điều khiển xe máy Honda Vario, biển số: 59P3-308.35 chở Mai Minh Đ đi về, khi đến trước địa chỉ số F Đ, phường H, quận T, thì bị Tổ công tác 363, Công an quận T kiểm tra phát hiện. Thu giữ trong túi xách màu đen của Nguyễn Ngọc Quang T 01 túi nylon bên trong có chứa thảo mộc khô, khối lượng 0,1953 gam (m1), 01 cối xay bằng kim loại màu vàng chứa 1,1109 thảo mộc khô (m2). Kết luận giám định số 11530 ngày 08/10/2024 và số 11494 của Phòng K1 công an Thành phố H kết luận là ma túy, m1 có khối lượng 0,1953 gam ma túy, loại cần sa, m2 có khối lượng 1, 1109 gam ma túy, loại cần sa)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T Nguyễn Ngọc Quang T khai nhận: Đã mua ma tuý của “Nguyễn Quang T2” tại quán cà phê “Mimosa” được 03 lần, T không biết lai lịch của T2, chỉ biết T2 sử dụng số điện thoại 0901.325.xxx và tài khoản số 00420131097 mang tên Nguyễn Quang T2, đăng ký mở tài khoản tại Ngân hàng TMCP Q (M). Các lần T mua ma túy để sử dụng như sau:

Lần 1: Vào khoảng ngày 26 hoặc ngày 27/8/2024, T mua 150.000 đồng ma túy cần sa của Nguyễn Quang T2 để sử dụng một mình.

Lần 2: Vào khoảng giữa tháng 9/2024 (không nhớ ngày), T mua 150.000 đồng ma túy cần sa của Nguyễn Quang T2 để sử dụng một mình.

Lần 3: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27/09/2024, T hùn 75.000 đồng và Đ hùn 75.000 đồng để mua 150.000 đồng ma túy cần sa của Nguyễn Quang T2 với mục đích cùng nhau sử dụng.

Mai Minh Đ khai nhận phù hợp với Nguyễn Ngọc Quang T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với “Nguyễn Quang T2”, kết quả điều tra xác định: Nguyễn Quang T2 (sinh năm: 13/10/1997, CCCD số: [...], đăng ký hộ khẩu thường trú tại 8 L, phường H, quận T, đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2019, chuyển về cư trú tại số D Lô J, chung cư B, phường A, quận T), T2 hiện không thực tế cư trú tại số D Lô J, chung cư B, phường A, quận T, hiện không rõ nơi ở của Nguyễn Quang T2. Cho bị can T và Đ nhận dạng T2 kết quả T và Đ không nhận dạng được T2.

Xác minh tài khoản số 00420131097 tên Nguyễn Quang T2. Bản sao kê tài khoản ngân hàng của T2 có nhận chuyển khoản số tiền 75.000 đồng từ tài khoản số 1040919241 của Nguyễn Ngọc Quang T vào ngày 24/09/2024.

Xác minh chủ thuê bao số 0901325837 tại Công ty M1 kết quả: Chủ thuê bao tên Nguyễn Khắc P. Sao kê chi tiết cuộc gọi thể hiện vào ngày 11/09/2024 và ngày 26/09/2024 T có sử dụng số điện thoại 0387.093.xxx của T gọi điện thoại cho Nguyễn Quang T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã mời làm việc đối với Nguyễn Khắc P để làm rõ việc P có sử dụng hoặc bán, cho thuê đối với số thuê bao nêu trên hay không nhằm làm rõ vai trò, hành vi của P, tuy nhiên P không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Thu giữ của Nguyễn Ngọc Quang T:
    • + 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H2 ghi số 3578/24 (Tang vật ma túy còn lại sau khi giám định);
    • + 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh Đ1 ghi số 3568/24 bên trong có 01 cối xay bằng kim loại màu vàng chứa cần sa (Tang vật ma túy còn lại sau khi giám định);
    • + 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro max màu xanh, EMEI: 355701907807964, bên trong có gắn 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0387.093.xxx
    • + 01 xe Honda Vario màu đen, biển số: 59P3-30835, số khung: MH1JM5114MK810085, số máy: JM51E1809603, kết quả xác minh, chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc T1 (bố ruột của Nguyễn Ngọc Quang T),
  • - Thu giữ của của Mai Minh Đ: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu đen, EMEI: 350905825614734, bên trong có gắn 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0924.382.xxx.

Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc Quang T và Mai Minh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của T, Đ phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS-TB ngày 11 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Quang T và Mai Minh Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát tại phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quang T và Mai Minh Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không có.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho các bị cáo, để các bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Quang T và Mai Minh Đ, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Ngọc Quang T và Mai Minh Đ đã thực hiện hành vi mua một gói nylon chứa cần sa khô từ một đối tượng không rõ lai lịch tên “Nguyễn Quang T2”, tại quán cà phê “Mimosa”. Sau khi mua, T sử dụng cối xay kim loại và giấy cuốn có sẵn trong túi xách mang theo để xay và cuốn cần sa thành điếu thuốc. Sau đó, T châm lửa đốt và cùng Đ chuyền tay nhau hút hết điếu cần sa tại quán cà phê. Phần cần sa còn lại được T cất giấu trong túi xách của mình. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được qui định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Do đó, khi xem xét, quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội để xử phạt bị cáo hình phạt phù hợp nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

    Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Ngọc Quang T còn có hành vi cất giấu trái phép 1,3062 gam ma tuý loại cần sa với mục đích sử dụng. Hành vi của Nguyễn Ngọc Quang T chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 95/QĐ-XPVPHC ngày 22/10/2024 đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đối với Nguyễn Ngọc Quang T theo điểm a khoản 2 Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP phạt tiền 3.500.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với qui định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

    Đối với “Nguyễn Quang T2” là người bán ma túy cho T, Đ và chủ thuê bao số 0901325837 tên Nguyễn Khắc P, qua xác minh hiện nay hai đối tượng T2 và P không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được, do đó chưa đủ cơ sở xử lý đối với T2 và P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã có văn bản đăng báo truy tìm, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

  3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, tích cực hợp tác với cơ quan cảnh sát điều tra trong việc giải quyết vụ án và tuyên truyền cho học sinh, sinh viên tại các trường học trên địa bàn quận T và kênh AN TV về tệ nạn ma túy cần sa và tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Bị cáo T có ông bà nội, ông bà N là người có công với cách mạng, mẹ bị cáo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có nhiều thành tích xuất sắc được Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế tặng nhiều giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác, bị cáo T hiện đang là sinh viên, trong quá trình học tập được tặng Giấy khen để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo T có vai trò là người rủ rê bị cáo Đ sử dụng ma túy cần sa. Do đó, khi xem xét mức hình phạt cho các bị cáo Hội đồng xét xử cũng xét đến vai trò của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội cũng như đảm bảo tính nhân văn của pháp luật. Các bị cáo hiện đang là sinh viên, học viên của các trường đại học và trường nghề nên Hội đồng xét xử cũng xem xét mức hình phạt phù hợp để các bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập, hòa nhập và làm lại cuộc đời trở thành công dân tốt, có ích xã hội, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không có.
  5. Về vật chứng:

    Vật chứng thu giữ:

    Đối với 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H2 ghi số 3578/24 là tang vật ma túy còn lại sau khi giám định. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

    Đối với 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh Đ1 ghi số 3568/24 bên trong có 01 cối xay bằng kim loại màu vàng chứa cần sa là tang vật ma túy còn lại sau khi giám định. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

    Đối với 01 túi xách màu đen thu giữ của bị cáo T là vật không có giá trị, bị cáo T không có yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

    Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro max màu xanh, EMEI: 355701907807964, bên trong có gắn 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0387.093.xxx thu giữ của bị cáo T. Xét đây là phương tiện bị cáo T dùng để liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

    Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu đen, EMEI: 350905825614734, bên trong có gắn 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0924.382.xxx thu giữ của bị cáo Đ. Xét đây là tài sản của cá nhân bị cáo Đ, không dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Đ.

    Đối với 01 xe Honda Vario màu đen, biển số: 59P3-30835, số khung: MH1JM5114MK810085, số máy: JM51E1809603 thu giữ của bị cáo T. Kết quả xác minh, chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc T1 (bố ruột của Nguyễn Ngọc Quang T), ông T1 giao xe máy trên cho T làm phương tiện đi học. Việc T sử dụng xe để cùng bạn đi sử dụng ma tuý cần sa ông T1 không biết. Đội Cảnh sát giao thông Công an quận T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và trả lại xe máy trên cho ông T1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

  6. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Quang T, Mai Minh Đ.
    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quang T 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.
    2. Xử phạt bị cáo Mai Minh Đ 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.
  2. Về vật chứng:

    Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H2 ghi số 3578/24 bên trong có 01 (một) cối xay bằng kim loại màu vàng chứa cần sa (tang vật ma túy còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh Đ1 ghi số 3568/24 (tang vật ma túy còn lại sau giám định), 01 túi xách màu đen.

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro max màu xanh, EMEI: 355701907807964.

    Trả lại cho bị cáo Mai Minh Đ: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu đen, EMEI: 350905825614734.

    (Tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 68/BB/2025 ngày 25/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc Quang T và Mai Minh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Út

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: gói nylon chứa cần sa khô từ một đối tượng không rõ lai lịch tên “Nguyễn Quang T2”, tại quán cà phê “Mimosa”. Sau khi mua, T sử dụng cối xay kim loại và giấy cuốn có sẵn trong túi xách mang theo để xay và cuốn cần sa thành điếu thuốc. Sau đó, T châm lửa đốt và cùng Đ chuyền tay nhau hút hết điếu cần sa tại quán cà phê. Phần cần sa còn lại được T cất giấu trong túi xách của mình. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được qui định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger