TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HS-ST
Ngày 25-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Nhân Dũng;
- Ông Hoàng Ngọc Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Văn Tú A, sinh ngày 19/3/1996, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C và bà Trần Thị P; có vợ: Nguyễn Thị Bé P1, con có: 01 người, sinh năm 2015;
Tiền án: Có 2 tiền án:
- + Tại Bản án hình sự sơ: 126/2015/HS-ST, ngày 29/12/2015 Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, áp dụng các điểm a, b, e khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm n, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tú A 06 (sáu) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g, n khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tú A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tú A hai tội là 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù (đã
chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/12/2020, chưa chấp hành xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự), chưa được xóa án tích;
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2022/HS-ST, ngày 01/7/2022 Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tú A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/10/2023, chưa chấp hành xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự), chưa được xóa án tích;
Nhân thân: Ngày 10/4/2021 Công an xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định số: 40/QĐ- XPVPHC (chưa chấp hành việc nộp phạt), đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 30/9/2021 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 215/QĐ-UBND, đã hết thời hiệu xóa tiền sự. Ngày 13/9/2024 Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 21/QĐ-XPHC (đã chấp hành việc nộp phạt ngày 13/9/2024). Ngày 13/01/2025 Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 02/QĐ-XPHC (đã chấp hành việc nộp phạt ngày 14/02/2025).
Bị tạm giữ từ ngày 30/10/2024 (theo Quyết định giạm giữ số: 1507/QĐ-ĐCSHS-KTMT, ngày 30/10/2024) đến ngày 01/11/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
- Ông Trần Văn L, sinh năm 1956; cư trú tại: Tổ I, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt;
- Ông Lê Trung H, sinh năm 1990; cư trú tại: Ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Lê Phương N, sinh năm 1987; cư trú tại: Ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn L1 (tên thường gọi: M), sinh năm 1997; cư trú tại: Ấp G, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1970; cư trú tại: Khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/8/2024, Đoàn Văn Tú A đi bộ ngang nhà ông Trần Văn L, sinh năm 1956, ngụ tại tổ 1, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, thì phát hiện xe mô tô biển số 70K1- 316.14, nhãn hiệu: Honda Wave Alpha, số
khung: 1212DY740307, số máy: HC12E5740327, màu Xám- Đen- Bạc dựng ở bên hông nhà, trên xe có cắm chìa khóa, không có người trông coi. Lúc này Tú A nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô trên mang bán lấy tiền tiêu xài, nên đã lén lút vào lấy trộm xe mô tô trên mang về nhà cất giấu. Đến ngày 15/8/2024, Tú A sử dụng tài khoản Facebook “Phương Khểnh” và Z “Phương Nguyên” nhắn tin, điện thoại cho Lê Thanh H1, sinh năm 1986, ngụ tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nói “Tú A có thằng em quen đang cầm cố chiếc xe mô tô giá 6.000.000 đồng không có tiền chuộc, nên kêu H1 chuộc xe mô tô trên ra Tú A bán cho H1 giá 7.000.000 đồng”, H1 không đồng ý mua, không biết xe Tú Anh trộm cắp mà có. Do quen với Tú A và biết tài khoản Facebook “Cô độc” thường đăng ảnh mua bán xe, nên H1 nói cho Tú A biết. Sau đó, Tú A liên hệ với người sử dụng tài khoản Facebook “Cô độc” thỏa thuận bán xe mô tô nói trên, người sử dụng tài khoản Facebook “Cô độc” đến nhà Tú A xem xe, Tú A nói giấy chứng nhận đăng ký xe đã bị mất, thì người này đồng ý mua xe mô tô trên với giá 7.000.000 đồng, số tiền bán được xe Tú A đã tiêu xài hết.
Sáng ngày 10/9/2024, Đoàn Văn Tú A đến nhà anh cột chèo anh Lê Trung H, sinh năm 1990, ngụ tại ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để tìm vợ tên Nguyễn Thị Bé P1, nhưng thấy nhà H đã khóa cửa. Tú A nhìn thấy bên trong nhà H có xe mô tô nhãn hiệu Vario, biển số 70H1-581.57 và biết không có ai ở bên trong nhà, nên đã nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô trên mang bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, Tú A nhặt cục đá xanh phá khóa cửa đi vào bên trong nhà lấy trộm xe mô tô trên, trên xe có cắm chìa khóa, trong cốp xe có giấy chứng nhận đăng ký xe bản phô tô. Sau khi lấy trộm xe Tú A điều khiển đến nhà Nguyễn Văn L1, sinh năm 1997, ngụ tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nói dối “H cần tiền nên muốn cầm cố xe mô tô trên giá 15.000.000 đồng”, do tin là Tú A nói thật không biết xe trộm cắp mà có. Nên L2 đã mang xe mô tô trên đến cầm cố cho chị Nguyễn Lê Phương N, sinh năm 1987, ngụ tại ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh được số tiền 12.000.000 đồng. Sau khi cầm cố được xe mô tô trên Tú A cho L2 300.000 đồng, số tiền còn lại Tú A tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 30/10/2024, Đoàn Văn Tú A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đầu thú.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đoàn Văn Tú A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đoàn Văn Tú A đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.
Tại Phiếu xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể Đoàn Văn Tú A, ngày 30/10/2024, thể hiện: Đoàn Văn Tú A dương tính với chất may tuý, loại Methamphetamine.
Kết luận về việc định giá của Hội đồng định giá tài sản số: 31/KL-HĐĐG, ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản của Ủy ban nhân dân huyện T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển số 70K1- 316.14, số máy:
HC12E5740327, số khung: 1212DY740307, tại thời điểm định giá ngày 12/8/2024 có trị giá 8.667.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số: 39/KL-HĐĐGTS, ngày 25/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện T, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 70H1- 581.57, số khung: MH1JM5127NK124536, số máy: JM51E2123458, tại thời điểm định giá ngày 10/9/2024 có trị giá 43.500.000 đồng.
Kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện, Đoàn Văn Tú A không có tài sản riêng có giá trị, nên không tiến hành kê biên.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Đã trả lại cho bị hại Lê Trung H là chủ sở hữu 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển số 70H1- 581.57, số khung: MH1JM5127NK124536, số máy: JM51E2123458.
* Phần trách nhiệm dân sự:
- Bị hại ông Trần Văn L đã nhận giá trị tài sản bị mất trộm là xe mô tô biển số 70K1- 316.14 của gia đình bị cáo Tú A số tiền 10.000.000 đồng, ông L không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tú A.
- Bị hại Lê Trung H đã nhận lại tài sản bị mất trộm là xe mô tô nhãn hiệu Vario, biển số 70H1-581.57, H không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tú A.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Lê Phương N yêu cầu bị cáo Đoàn văn Tú A phải trả lại số tiền mà bà N nhận thế chấp xe mô tô nhãn hiệu Vario biển số 70H1-581.57 là 12.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bà N, bà N không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số:16/CT-VKSTC ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Đoàn Văn Tú A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Tú A phạm tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị:
Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tú A mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Đoàn Văn Tú A.
Về trách nhiệm dân sự ghi nhận: Ông Trần Văn L đã nhận giá trị tài sản bị mất trộm số tiền 10.000.000 đồng, ông L không yêu cầu bồi thường gì thêm; ông Lê Trung H đã nhận lại tài sản bị mất trộm là xe mô tô nhãn hiệu Vario, biển số
70H1-581.57, ông H không yêu cầu bồi thường gì thêm; bà Nguyễn Lê Phương N đã nhận lại số tiền 12.000.000 đồng, bà N không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Bị cáo Đoàn Văn Tú A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị P trình bày: Bà không yêu cầu bị cáo Tú A trả lại số tiền 21.700.000 đồng và ông Nguyễn Văn L1 trả lại số tiền 300.000 đồng bà đã bồi thường thay cho bị cáo Tú A và không có ý kiến tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo thể hiện: Để có tiền tiêu xài cá nhân, vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/8/2024 tại tổ I, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Đoàn Văn Tú A đã lén lút trộm của ông Trần Văn L một xe mô tô biển số 70K1- 316.14, nhãn hiệu: Honda, loại Wave Alpha, có trị giá 8.667.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 10/9/2024, tại ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh bị cáo Tú A đã lén lút vào nhà của ông Lê Trung H trộm một xe mô tô biển số 70H1- 581.57, nhãn hiệu Honda, loại Vario, có trị giá 43.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Tú A chiếm đoạt số tiền 52.167.000 đồng, hành vi của bị cáo Đoàn Văn Tú A đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Tú A chiếm đoạt tài sản trị giá 52.167.000 đồng và đã bị áp dụng tình tiết tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Nên hành vi của bị cáo Đoàn Văn Tú A bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” và “Tái phạm nguy hiểm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Do đó Bản cáo trạng số: 16/CT-VKSTC ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Đoàn Văn Tú A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng quy định của pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Đoàn Văn Tú A là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp
luật công nhận và bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có hai tiền án về “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên cần xử mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Trong khoảng thời gian từ ngày 12/8/2024 đến ngày 10/9/2024 bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo Tú A bị áp dụng tình tiết tặng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả. Bị cáo đã đến Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T đầu thú về hành vi phạm tội của mình và các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo Tú A được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Nhân thân: Bị cáo Tú A đã bị xử lý hành chính 04 lần trong đó: Hành vi ngày 10/4/2021, ngày 30/9/2021 đã hết thời hiệu xóa tiền sự và hành vi ngày 13/9/2024, ngày 13/01/2025 chưa hết thời hiệu xóa tiền sự. Nên bị cáo Tú A được xem có nhân thân xấu.
- Xét tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn. Nhằm cách ly bị cáo Đoàn Văn Tú A ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xét thấy bị cáo Đoàn Văn Tú A không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về tránh nhiệm dân sự:
- Ông Trần Văn L đã nhận giá trị tài sản bị mất trộm số tiền 10.000.000 đồng; ông Lê Trung H đã nhận lại tài sản bị mất trộm là xe mô tô nhãn hiệu Vario, biển số 70H1-581.57; bà Nguyễn Lê Phương N đã nhận lại số tiền 12.000.000 đồng. Ghi nhận ông Trần Văn L, ông Lê Trung H, bà Nguyễn Lê Phương N không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Bà Trần Thị P đã bồi thường cho ông Trần Văn L, bà Nguyễn Lê Phương N thay bị cáo Tú A tổng số tiền 22.000.000 đồng, mặc dù bị cáo Tú A đã sử dụng hết số tiền 18.700.000 đồng, trả công cho ông L1 số tiền 300.000 đồng là tiền thu lợi
bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội mà có, tuy nhiên bà P đã tự nguyện bồi thường cho ông L, cho bà N. Do bà P không yêu cầu bị cáo Tú A trả lại số tiền 21.700.000 đồng và không yêu cầu ông Nguyễn Văn L1 trả lại số tiền 300.000 đồng. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không cần truy tịch thu số tiền 18.700.000 đồng của bị cáo Tú A, số tiền 300.000 đồng của ông Nguyễn Văn L1.
[9] Xử lý vật chứng: Các vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý xong theo đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra giải quyết.
[10] - Đối với bà Nguyễn Lê Phương N khi nhận thế chấp xe mô tô nhãn hiệu Vario biển số 70H1-581.57, bà N không biết xe mô tô trên do Tú A trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý đối với bà N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có Công văn chuyển Công an huyện T xem xét xử lý vi phạm hành chính đối với bà N về hành vi cầm cố tài sản không chính chủ là có căn cứ.
- Đối với người có tài khoản Facebook “Cô độc” đã mua xe mô tô biển số 70K1- 316.14 của bị cáo Tú A, do không xác định được nhân thân, lai lịch không tiến hành làm việc được, nên không xem xét xử lý.
- Đối với ông Nguyễn Văn L1 đã có hành vi mang xe mô tô nhãn hiệu Vario biển số 70H1-581.57 cầm cố dùm cho bị cáo Tú A, nhưng khi mang xe mô tô trên đi cầm cố ông L1 không biết do bị cáo Tú A trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý đối với ông L1.
[11] Về án phí: Bị cáo Đoàn Văn Tú A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tú A 04 (năm) tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 30/10/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đoàn Văn Tú A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Đoàn Văn Tú A, bà Trần Thị P có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn L, ông Lê Trung H, bà Nguyễn Lê Phương N, ông Nguyễn Văn L1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Lợi |
8
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Tú A về tội "Trộm cắp tài sản"
