|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-02-2025.
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Hồng Thơm
- Bà Trương Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 03A/2025/QĐST-HN ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1969
Địa chỉ: ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
- Bị đơn: Ông Phan Văn L, sinh năm 1968
Địa chỉ: ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị V trình bày: Bà và ông Phan Văn L tự quen biết, sau một thời gian thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang) vào ngày 24/5/1993. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 01/2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau và đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Văn L.
Về con chung: Thời gian chung sống, bà và ông L có 02 con chung tên Phan Văn N, giới tính: Nam, sinh ngày 25/6/1994 và Phan Thị Bích T, giới tính: Nữ, sinh ngày 03/6/1993, hiện tại các con đã trưởng thành nên bà không có yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Phan Văn L quá trình tố tụng đã được Toà án Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng không đến toà nên chưa thể hiện ý kiến.
Tại phiên toà: Bà Nguyễn Thị V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông Phan Văn L tiếp tục vắng mặt nên không thể phát biểu yêu cầu nào mới.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết. Bị đơn trong vụ án là ông Phan Văn L, hiện tại có nơi cư trú tại ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
[3] Về xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Phan Văn L là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt.
Về nội dung tranh chấp:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà V và ông L chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang) theo quy định nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp. Bà V yêu cầu ly hôn vì cho rằng bà và ông L chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến mất hạnh phúc, Tòa án đã mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho ông, bà được đoàn tụ nhưng ông L không tham dự. Xét quan hệ hôn nhân phải dựa trên nền tảng thương yêu, tôn trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tạo lập gia đình hạnh phúc nhưng bà V, ông L chung sống phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay lại không tạo điều kiện hàn gắn thể hiện mâu thuẫn đã trầm trọng, bà V kiên quyết yêu cầu được ly hôn, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Phan Văn L.
[2]. Về con chung: Bà V và ông L sống với nhau có 02 con chung tên Phan Văn N, giới tính: Nam, sinh ngày 25/6/1994 và Phan Thị Bích T, giới tính: Nữ, sinh ngày 03/6/1993, hiện tại các con của bà V đã đủ tuổi trưởng thành, bà V không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết việc nuôi con là phù hợp với quy định pháp luật nên không đặt ra vấn đề cần xem xét.
[3]. Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
[4]. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị V phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí kèm theo.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Phan Văn L.
- Về con chung: Đã trưởng thành nên không giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp theo biên lai thu số 0004726 ngày 08/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí. Bà V không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoạc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Mẫn |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho bà Nguyễn Thị V được ly hôn
