Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 24-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Giao

Bà Vũ Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:08/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Văn N (tên gọi khác: không), sinh ngày 01 tháng 7 năm 1986 tại Hà Nội.

HKTT: thôn Cát Ngòi, xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn M, sinh năm 1966, con bà Phan Thị D, sinh năm 1966; có vợ là Lê Thị N1, sinh năm 1983; có 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền sự: Không.

Tiền án: có 02 tiền án.

  • Ngày 28/8/2019 Bị TAND huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa xóa án tích).
  • Ngày 01/3/2022 bị TAND huyện Thanh Oai, TP Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa xóa án tích).

Nhân thân:

  • Ngày 06/02/2015 bị TAND huyện Thanh Trì, TP Hà Nội xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 08/2015/HSST.
  • Ngày 14/4/2015 bị TAND quận Cầu Giấy, TP Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với bản án số 08/2015/HSST ngày 06/02/2015, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 14 tháng tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Hương L, sinh năm 1988; trú tại: xóm N, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn N, sinh năm 1986, trú tại: thôn C, xã C, huyện H, thành phố Hà Nội là người không có công ăn việc làm ổn định. Khoảng 11 giờ ngày 27/9/2024 N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ, đen, bạc BKS 29Y1-3953 của mình đi từ nhà theo hướng Hà Nội – Sơn La trên đường QL6 đến địa phận thành phố H, tỉnh Hòa Bình với mục đích tìm kiếm sơ hở của chủ sở hữu tài sản để trộm cắp lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Khoảng 13 giờ 25 phút khi đến khu vực B, xã M, thành phố H, N nhìn thấy cửa hàng “Spa Hương Lan” của chị Nguyễn Hương L làm chủ không khóa cửa sắt bên ngoài, cửa nhựa bên trong khép, N đã dừng xe trước cửa, mở cửa đi vào bên trong cửa hàng, quan sát xung quanh không thấy ai trông coi. N thấy trên nóc giá gỗ để mỹ phẩm ở giữa cửa hàng có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone11 màu đen, có ốp bằng nhựa, N dùng tay cầm chiếc điện thoại đi ra ngoài cửa rồi cho vào túi quần trái phía trước đang mặc của mình và nhanh chóng điều khiển xe mô tô theo đường QL6 về hướng Hà Nội để tìm nơi tiêu thụ tài sản.

Sau khi chị L quay về cửa hàng thì không thấy điện thoại nên đã kiểm tra C thì nhìn thấy người đàn ông vào cửa hàng lấy điện thoại rồi điều khiển xe đi về hướng Hà Nội nên đã cùng chị Nguyễn Diệu H là nhân viên cửa hàng đuổi theo, sau khi đuổi kịp và tiến cận N tại khu vực xã Y, huyện T, Hà Nội, chị L đã hỏi về chiếc điện thoại, N thú nhận là đã lấy trộm, chị L đưa N về bàn giao cho công an xã M, thành phố H. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 160/KL-HĐĐGTS ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, khung và mặt lưng gáy màu đen, dung lượng 64Gb, số seri DNPD3791N735, tình trạng hoạt động bình thường, đã qua sử dụng trị giá: 5.000.000 đồng; 01 ốp dùng cho đện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, làm bằng nhựa dẻo không màu, tình trạng đã qua sử dụng trị giá 20.000 đồng. Tổng trị giá: 5.020.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, khung và mặt lưng gáy màu đen, dung lượng 64Gb, số seri DNPD3791N735.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Hoda Wave RS màu đỏ đen bạc BKS 29Y1-3953 số máy: 58708132, số khung 608281.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Hương L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 17/CT-VKSTPHB ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố Đỗ Văn N về tội: Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Hương L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Bị cáo Đỗ Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đỗ Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 25 phút 27/9/2024 tại khi vực phố B, xã M, thành phố H, lợi dụng sự sơ hở của chủ quản lý tài sản Đỗ Văn N đã có hành vi lén lút đột nhập cửa hàng “Spa Hương Lan” của chị Nguyễn Hương L trộm cắp chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 11 tổng giá trị 5.020.000 đồng. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố H, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:

Đỗ Văn N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Apple Iphone 11 của chị Nguyễn Hương L có giá trị 5.020.000 đồng, sau khi trộm cắp xong bị cáo đã nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản, bản thân bị cáo còn 02 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi bị cáo thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo, do đó cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp được thu hồi và trả lại cho bị hại, tại phiên tòa bị cáo khai có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân thường xuyên ốm đau...đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Hương L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với Hoda Wave RS BKS 29Y1-3953, đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị H1, N khai mua lại của anh Nguyễn Đăng N2 tại cửa hàng sửa chữa xe máy của anh N2 tại xóm Đ, xã S, huyện H, Hà Nội. Mua bán bằng giấy viết tay. Qua xác minh hiện không biết chị Nguyễn Thị H1 đang ở đâu, tra cứu tàng thư xác định chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu, nên xác định đây là tài sản của bị cáo.

[8] Về vật chứng của vụ án:

- 01 (một) xe mô tô 01 xe mô tô nhãn hiệu Hoda Wave RS màu đỏ đen bạc BKS 29Y1-3953, là xe bị cáo dùng để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[9] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội: Trộm cắp tài sản.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 27/9/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu, phát mại, sung công quỹ Nhà nước.:

- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu Đỏ Đen Bạc, BKS 29Y1-3953, số máy: HC09E5708132, số khung: RLHHC09037Y608281. Tình trạng xe đã qua sử dụng, phần thân vỏ nhựa của xe có nhiều vết trầy xước nứt vỡ, không giao nhận giấy tờ xe, không kiểm tra tình trạng xe.

(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 56/BB/2025 ngày 22/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình và Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND TPHB;
  • - CA TPHB;
  • - Chi cục THA TPHB;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thêu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn N K2 Đ173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger