|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 19/2025/DS-ST Ngày: 24/02/2025 V/v: “T/c hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE- TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng
Bà Nguyễn Thị Bé Em
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia: Ông Huỳnh Thanh Nhã - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 397/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa:
*Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc Â, sinh năm 1988;
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc L, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An; theo văn bản uỷ quyền ngày 02/12/2024. (đề nghị giải quyết vắng mặt)
*Bị đơn:
- Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1964; (vắng mặt)
- Bà Ngô Thị Hồng T, sinh năm 1966; (vắng mặt)
Cùng cư trú: 370A ấp D, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/7/2024, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 16/01/2025 cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn ông Phạm Ngọc  trình bày:
Ông Phạm Văn L1 và bà Ngô Thị Hồng T là cậu mợ của ông Phạm Ngọc Â. Vào ngày 06/01/2020, ông L1, bà T đã liên hệ ông  để vay số tiền 50.000.000 đồng. Do tin tưởng nên ông  đã đồng ý cho ông L1, bà T vay số tiền nêu trên. Khi vay tiền, ông L1 và bà T có viết giấy mượn tiền bằng giấy tay, sau đó ông L1 và bà T ký tên vào giấy mượn tiền và giao cho ông  giữ. Theo giấy mượn tiền các bên thoả thuận thời hạn vay tiền là 01 năm. Tuy nhiên, kể từ thời điểm hết thời vay thì ông L1, bà T không trả lại tiền vay cho ông  theo như thoả thuận. Ông  đã nhiều lần liên hệ ông L1 và bà T để yêu cầu trả tiền nhưng ông L1 và bà T cố tình trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Â.
Do đó, nay ông  yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông L1 và bà T có nghĩa vụ liên đới trả cho ông  số tiền 50.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày vay đến ngày xét xử. Ông  không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn ông Phạm Văn L1 và bà Ngô Thị Hồng T:
Quá trình giải quyết vụ án, ông và bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông L1 và bà T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội Thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ các điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội, tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông  về việc buộc ông L1 và bà T có nghĩa vụ liên đới trả cho ông  số tiền 50.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày vay đến ngày xét xử với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày vay đến ngày xét xử; Về án phí, ông L1 và bà T có nghĩa chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: căn cứ đơn khởi kiện 10/7/2024, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 16/01/2025, nguyên đơn ông Phạm Ngọc  khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn L1, bà Ngô Thị Hồng T trả tiền vay còn thiếu, việc giao dịch tiền giữa các bên xảy ra vào năm 2020, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định đây là vụ án "tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Phạm Văn L1, bà Ngô Thị Hồng T có nơi cư trú tại xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L1, bà T theo đúng quy định tại các điều 175, 177, 196, 208 và Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông L1, bà T vắng mặt. Việc ông L1, bà T vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L1, bà T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc Â, thấy rằng:
[2.1] Tại Giấy mượn tiền ngày 06/01/2020 có nội dung như sau: "Hôm nay, ngày 06/01/2020;  có cho cậu mợ hai mượn số tiền 50.000.000 đồng (thành chữ: năm mươi triệu đồng); Người cho mượn là Phạm Ngọc Â; Bên mượn là Phạm Văn L1, số CM 320548334...vợ là Ngô Thị Hông T1, số CM 320645698... Trong thời hạn 1 năm cậu mợ hoàn trả lại cho Â; Bên cho mượn Â; Bên mượn Phạm Văn L1, Ngô Thị Hồng T". Như vậy, việc vay tiền giữa ông  với ông L1, bà T được lập thành văn bản. Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể”; Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.". Đối chiếu các quy định nêu trên, xét thấy "giấy mượn tiền ngày 06/01/2020" đáp ứng đủ yếu tố về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 gồm: yếu tố chủ thể, tính tự nguyện của các bên tham gia giao dịch, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của xã hội, do đó "giấy mượn tiền ngày 06/01/2020" có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, quá trình giải
quyết vụ án, ông  đã gửi cho ông L1, bà T bản sao hồ sơ khởi kiện, đồng thời Tòa án cũng đã triệu tập ông L1, bà T nhiều lần để ghi nhận ý kiến của ông L1, bà T đối với yêu cầu khởi kiện của ông  nhưng ông L1, bà T vắng mặt cũng như không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của ông Â. Bên cạnh đó, quá trình giải quyết giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân xã N cung cấp thông tin ông L1 và bà T là vợ chồng, đăng ký kết hôn trong sổ bộ vào năm 1996. Từ các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc ông  cho vợ chồng ông L1, bà T vay số tiền 50.000.000 đồng là có thật. Căn cứ các điều 280, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông  khởi kiện yêu cầu ông L1, bà T có nghĩa vụ liên đới trả cho ông  số tiền vay 50.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2] Về tiền lãi: ông  yêu cầu ông L1, bà T có nghĩa vụ trả tiền lãi của số tiền 50.000.000 đồng với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 06/01/2020 đến ngày xét xử. Căn cứ Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, xét thấy mức lãi suất ông  yêu cầu là có cơ sở, phù hợp theo quy định pháp luật nên được chấp nhận. Tiền lãi của số tiền 50.000.000 đồng được tính như sau: 50.000.000 đồng x 0,83%/tháng x (5 năm 1 tháng 18 ngày) = 25.699.000 đồng.
[2.3] Ông  không còn yêu cầu nào khác nên không xem xét.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do yêu cầu khởi kiện của ông  được chấp nhận nên ông L1, bà T có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 3.785.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 280, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc  đối với bị đơn ông Phạm Văn L1, bà Ngô Thị Hồng T về việc "tranh chấp hợp đồng vay tài sản", cụ thể như sau:
Buộc ông Phạm Văn L1, bà Ngô Thị Hồng T có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phạm Ngọc  số tiền 75.699.000 (bảy mươi lăm triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn) đồng, trong đó: tiền gốc 50.000.000 đồng, tiền lãi 25.699.000 đồng.
Kể từ khi Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Ông Phạm Văn L1, bà Ngô Thị Hồng T có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 3.785.000 (ba triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn) đồng.
Ông Phạm Ngọc  được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.375.000 (hai triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005433 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Ông Phạm Ngọc Â, ông Phạm Văn L1, bà Ngô Thị Hồng T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 19/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
