Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 20/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Quân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Trụ;

Ông Nguyễn Duy Tính;

Thư ký phiên toà: Bà Dương Vũ Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

* Tại điểm cầu thành phần, những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa gồm có:

Bà: Đỗ Thị H - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Ông:Vũ Đức M - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Các cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam Công an tỉnh P.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm, tổ chức tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Đưa ra xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Quang N, sinh ngày 24/8/1986; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Trương Đình B (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1958; Mẹ bị cáo hiện ở xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: 01 tiền án. Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2014/HSST, ngày 26/8/2014 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trương Quang N 08 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/3/2022.

- Tiền sự: Không;

- Nhân thân:

  • + Bản án hình sự phúc thẩm số: 20/2006/HSPT, ngày 25/4/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Trương Quang N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Giá trị tài sản: 50.000 đồng.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2008/HSST, ngày 04/3/2008 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trương Quang N 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Giá trị tài sản: 50.000 đồng. N đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại, nộp án phí, chấp hành xong hình phạt tù tháng 9/2008.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số: 236/2011/HSST, ngày 28/9/2011 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trương Quang N 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. N đã nộp án phí, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/3/2014.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/10/2024 đến ngày 23/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Trương Quang N. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa);

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1958, Nơi cư trú: Khu I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • - Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ A, phố K, phường B (nay là phường T), thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 15/10/2024, tại tổ F, khu B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra đối với người này. Quá trình kiểm tra, người này tự khai nhận họ tên là Trương Quang N, sinh năm 1986, trú tại khu I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. N tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp cho Cơ quan Công an: 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa 18 viên nén màu hồng một mặt in chìm chữ “WY” và 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. N khai nhận đây là số ma túy hồng phiến và ma túy đá của N mục đích để bán. Tại chỗ Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N, niêm phong số ma tuý của N vào một bì giấy dán kín, đồng thời thu giữ của N: 01 điện thoại di động IPHONE màu vàng đã qua sử dụng, IMEI: 353237101044171, sim số 0981224886.

Tiến hành xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với N, kết quả N có sử dụng ma túy (Dương tính với nhóm MET).

Ngày 15/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 18 viên nén màu hồng một mặt in chìm chữ “WY” và chất rắn dạng tinh thể màu trắng đã thu giữ của N. Tại bản Kết luận giám định số 1432/KL-KTHS ngày 21/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“ 18 (mười tám) viên nén hình tròn màu hồng, trên một mặt mỗi viên nén đều có in chìm chữ “WY”, gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 1,801 gam; là ma túy, loại Methamphetamine.

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,795 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

* Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

H2 lại đối tượng giám định: 1,499 gam viên nén màu hồng và 0,659 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Quá trình điều tra, N khai nhận ngày 13/10/2024 đã bán trái phép 01 gói ma tuý cho Nguyễn Ngọc T, SN: 1980, HKTT: Khu K, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã triệu tập T đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, T đã khai nhận hành vi mua ma tuý của N và đã sử dụng hết cho bản thân. Tiến hành xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với T, kết quả T có sử dụng ma túy (Dương tính với nhóm MET).

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, tại cơ quan điều tra N khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 12/10/2024, N đi đến khu vực phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội tìm mua ma tuý. Tại đây, N gặp một người đàn ông tên là H3 khoảng hơn 50 tuổi, N hỏi và mua được của H3 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa 20 viên dạng nén hình tròn màu hồng một mặt mỗi viên có chữ in chìm “WY” với giá 50.000 đồng một viên. Sau khi mua được ma tuý, N cầm túi ma tuý mua được cất giấu trong người. Sau đó N đi ra khu vực đầu đường Đ thuộc quận Đ, thành phố Hà Nội tìm mua ma tuý đá. Tại đây, N gặp một người phụ nữ N không biết họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu khoảng hơn 50 tuổi, N hỏi và mua được của người này 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong túi có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, là ma tuý đá với giá 3.000.000 đồng. N cất gói ma tuý vừa mua được vào trong người rồi đi về thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khi về đến nhà, N lấy 02 viên ma túy hồng phiến ra một mình sử dụng hết cho bản thân, số còn lại Nam gói lại như cũ và cất giấu số ma túy hồng phiến và ma túy đá mua được như trên vào trong túi quần N đang mặc xem có ai hỏi mua ma túy N sẽ bán. Đến khoảng hơn 20 giờ ngày 13/10/2024, khi N đang ở nhà thì có Nguyễn Ngọc T gọi điện thoại từ số 0389.269.xxx đến số điện thoại của N là 0981.224.xxx hỏi mua của N 1.000.000 đồng tiền ma túy đá. N đồng ý bán ma túy cho T và bảo T chuyển tiền vào số tài khoản của N là 142898 (ngân hàng M1). T đồng ý và chuyển tiền từ số tài khoản của T là 3530105418008 ( ngân hàng M1) đến tài khoản của N cung cấp. N nhận được tiền và hẹn T ra khu vực gần khách sạn V thuộc xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để trao đổi mua bán ma túy. Sau đó, N mở túi ma túy đá mà N đang cất giấu trong túi quần ra tách lấy một phần và gói lại thành 01 gói có đặc điểm là gói giấy hai mặt màu trắng, bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín 2 đầu, bên trong đoạn ống nhựa có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá, số ma tuý còn lại gói lại như cũ, rồi N cầm gói ma túy vừa tách ra đi đến chỗ hẹn gặp T. Tại điểm hẹn, N đưa gói ma túy trên cho T, T đi ra khu vực vắng người gần đó sử dụng hết cho bản thân còn N đi về. Đến khoảng hơn 22 giờ ngày 15/10/2024, N đúc gói ma tuý đá và túi ma tuý hồng phiến còn lại có đặc điểm như nêu trên trong túi quần bên phải đang mặc đứng ở khu vực gần khách sạn L thuộc phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ mục đích để bán ma tuý cho người có nhu cầu hỏi mua, N sẽ bán với giá 70.000 đồng một viên ma tuý hồng phiến và 4.000.000 đồng gói ma tuý đá. N đứng được một lúc thì có tổ công tác của Công an thành phố V đến yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N như đã nêu trên.

Về vật chứng, tài sản bị thu giữ gồm:

  • + 01 (một) bì niêm phong số 1432/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P là mẫu vật còn lại hoàn trả sau khi giám định: 1,499 gam viên nén màu hồng và 0,659 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định là ma tuý Methamphetamine thu giữ của N.
  • + 01 (một) điện thoại di động IPHONE, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 353237101044171, kèm theo sim số 0981224886 là điện thoại N sử dụng liên lạc để bán Ma tuý cho T.

Hiện vật chứng đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

  • + Tiền Việt Nam: 1.000.000đ (Một triệu đồng). Ngày 25/12/2024, bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1958, địa chỉ: Khu I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (mẹ đẻ của N) đã tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V nộp thay Nam số tiền 1.000.000đ là số tiền N bán ma tuý cho T mà có. Số tiền trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS-VT ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, truy tố bị cáo Trương Quang N về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý", theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Trương Quang N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

-Về hình phạt chính: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2024.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng điểm a,b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại di động IPHONE, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 353237101044171 của bị cáo N;
  • + Tiền Việt Nam: 1.000.000đ (một triệu đồng) là tiền Nam bán ma túy cho T mà có

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 (một) bì niêm phong số 1432/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P là mẫu vật còn lại hoàn trả sau khi giám định: 1,499 gam viên nén màu hồng và 0,659 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định;
  • + 01 sim điện thoại 0981.224.xxx của N;

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện VKSND TP Việt Trì. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 15/10/2024, tại tổ F, khu B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Trương Quang N có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 2,596 gam ma túy, loại Methamphetaminvới mục đích để bán thì tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Ngoài ra, khoảng hơn 20 giờ ngày 13/10/2024, tại khu vực gần khách sạn V thuộc xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Trương Quang N có hành vi bán trái phép 1.000.000 đồng ma tuý Methamphetamine cho Nguyễn Ngọc T. Cùng ngày, T đã sử dụng hết cho bản thân. Bị cáo Trương Quang N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và không có việc làm ổn định nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để bán ma túy kiếm lời. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã bị Tòa án kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hiện nay, tình hình nghiện ma túy đang diễn ra phức tạp, tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn là nguy hiểm cho xã hội.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã tự khai ra trước khi bị bắt quả tang còn bán trái phép chất ma túy 01 lần cho Nguyễn Ngọc T và thành khẩn khai báo, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bố đẻ bị cáo được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, cần có mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5]. Về xử lý vật chứng:

*Tịch thu tiêu huỷ:

  • - Ma túy là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 bì niêm phong số 1432/KL-KTHS của Phòng K Công an Tỉnh P hoàn trả sau giám định là phù hợp;
  • - 01 sim điện thoại số 0981.224.xxx của Nam không có giá trị sử dụng là phù hợp.

*Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động IPHONE, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 353237101044171 của bị cáo N là phù hợp;
  • - Tiền Việt Nam: 1.000.000đ (một triệu đồng) đây là số tiền mà bà Nguyễn Thị H1 đã tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V nộp thay Nam số tiền 1.000.000₫ là số tiền N bán ma tuý cho T mà có. Bà H1 không đề nghị N phải trả lại số tiền trên cho bà. Nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trương Quang N và Nguyễn Ngọc T, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt cảnh cáo là phù hợp.

Đối với người đàn ông và người phụ nữ đã bán ma túy cho N ngày 12/10/2024: Ngoài lời khai của N không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định hai người đàn ông và người phụ nữ đã bán ma túy cho N như N đã khai và nguồn gốc số ma túy của N. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ.

[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố bị cáo Trương Quang N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Quang N 8 năm 06 tháng (Tám năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 1432/KL-KTHS của Phòng K Công an Tỉnh P hoàn trả sau giám định; 01 sim điện thoại số 0981.224.xxx của N.
  • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động IPHONE, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 353237101044171 của bị cáo N;
  • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước Tiền Việt Nam: 1.000.000đ (một triệu đồng).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và theo Biên lai thu tiền số 0004833 ngày 23/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

- Về án phí: Buộc bị cáo Trương Quang N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Quang N phạm tội Mua bán trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger