|
Mẫu 27-HS TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc —————————— |
|
Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 20-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Hậu và bà Phan Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung – Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2003 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: E khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Út N, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Diễm T1, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 117/2019/HSST, ngày 25/10/2019; đến ngày 23/6/2021 chấp hành xong hình phạt
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố L (có mặt).
Bị hại: Lê Thị Ú (đã chết)
Người đại diện:
- Ông Nguyễn Phúc L, sinh năm 1970 (Có mặt);
- Em Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 2004 (Có mặt);
- Em Nguyễn Đức H, sinh năm 2006 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: C, tổ B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Huỳnh Thị Diễm T1, sinh năm 1977 (Có mặt);
- Ông Dương Hiếu H1, sinh năm 1973 (Có mặt).
Cùng cư trú: Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Huỳnh T không có giấy phép lái xe mô tô 02 bánh có dung tích xilanh từ 50cm3 đến dưới 175cm3. Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 12 tháng 5 năm 2024, T điều khiển xe mô tô biển số 67C1-204.81 dung tích xilanh 108cm trong tình trạng có sử dụng chất ma tuý (loại Methamphetamine và A) lưu thông trên đường Q, phường B, thành phố L, theo hướng từ thành phố L về thành phố C. Khi đến Km 63+180 Quốc lộ I thuộc khóm B, phường B, thành phố L, T điều khiển xe mô tô 67C1-204.81 vượt lên bên trái xe đạp do bà Lê Thị Ú điều khiển cùng chiều phía trước, do thiếu chú ý quan sát nên xe mô tô 67C1-204.81 do T điều khiển đụng vào bên trái xe đạp bà Ú, làm bà Ú ngã xuống đường bất tỉnh, được đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện Đa khoa thành phố C điều trị đến 09 giờ 30 phút ngày 13 tháng 5 năm 2024, bà Ú chết.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu JIULONG, màu xanh, biển số 67C1-204.81; 01 xe đạp màu xanh và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 002293, biển số 67C1-204.81 của Huỳnh Thị Diễm T1.
* Biên bản dựng lại hiện trường tai nạn giao thông ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, ghi nhận:
Hiện trường xảy ra tại Km 63+180 Quốc lộ I thuộc khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Đoạn đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường làm bằng bê tông nhựa rộng 12m10, có vạch kẻ đường đứt quãng màu vàng để phân chia hai dòng phương tiện ngược chiều nhau từ hai hướng. Lấy lề phải hướng từ thành phố L đi thành phố C làm lề chuẩn. Lấy trụ diện số 2/81 làm điểm mốc cố định.
- Kí hiệu 01: Là vị trí xe đạp ngã nghiêng bên trái nằm trên mặt đường, đầu xe hướng về C, đuôi xe hướng về L. T2 trục trước của xe cách đường chuẩn 0m75, cách đầu nạn nhân vị trí 02 là 1m20, cách tâm trục trước xe mô tô biển số 67C1-204.81 là 11m75. T2 trục sau xe cách lề đường chuẩn 1m50 cách trụ điện 2/81 là 4m80.
- Kí hiệu 02: Là vị trí nạn nhân Lê Thị Ú nằm trên mặt đường, đầu nạn nhân hướng về C, chân nạn nhân hướng về L. T2 đầu nạn nhân vị trí số 02 cách lề đường chuẩn là 1m70, cách tâm trục trước xe đạp là 1m20, cách tâm trục trước xe mô tô biển số 67C1-204.81 là 11m15.
- Kí hiệu 03: Vị trí xe mô tô biển số 67C1-204.81 xe nằm ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng vào lề đường bên trái, đuôi xe hướng vào lề đường bên phải
theo hướng L đi C. T2 trục trước của xe cách lề đường chuẩn là 0m80, cách đầu nạn nhân vị trí số 2 là 11m15, cách tâm trục trước xe đạp là 11m75. T2 trục trước xe đạp là 11m75. T2 trục sau xe cách lề đường chuẩn là 0m45.
* Các Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L ghi nhận:
- Đối với xe đạp: Tay lái xe bị lệch hướng từ trái sang phải, từ trước ra sau; đầu nắm tay lái bên trái có vết xù cao su, kích thước (2x3) cm, cách mặt đất 1m05; đầu bàn đạp bên trái có vết mài mòn mũ nhựa kích thước (2,5x7) cm; yên xe bị lệch hướng từ trái sang phải, từ trước ra sau; mặt ngoài đuôi phanh kim loại có vết ma sát mài mòn kim loại, kích thước (1x2) cm.
- Đối với xe mô tô biển số 67C1-204.81: Chắn bùn trước bên phải có dấu vết ma sát mũ nhựa trầy xước sơn, kích thước (7x7) cm, cách đất 56 cm; ốp bảo vệ đèn chiếu sáng, đèn xin đường bên phải có vết ma sát mài mòn mũ nhựa; đầu nắm tay thắng bên phải có vết ma sát mài mòn kim loại kích thước (1x2)cm, cách mặt đất 89 cm; đầu nắm tay lái có vết mài mòn cao su kích thước (2x3) cm, cách mặt đất 95 cm; mặt ngoài cần thắng có vết ma sát mài mòn kim loại, kích thước (0,5x3) cm, cách mặt đất 28 cm; đầu gác chân trước bên phải có vết ma sát cao su, đầu thanh kim loại gác chân có vết ma sát mài mòn kim loại, kích thước (3x4) cm, cách mặt đất 29cm; mặt ngoài đuôi bộ phận giảm thanh có vết ma sát mài mòn kim loại, kích thước (1x2,5) cm, cách mặt đất 32cm.
* Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 12 tháng 5 năm 2024 của Trung tâm Y tế thành phố L đối với Nguyễn Huỳnh T, kết quả: Nước tiểu dương tính với Methamphetamine (ma tuý đá) và A (ma tuý tổng hợp).
* Kết luận giám định tử thi số 105/24/KLGĐTT-TTPY ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Lê Thị Ú, sinh năm 1965, xác định:
Các kết quả chính: Sây sát da + bầm máu nhiều nơi trên cơ thể; bầm tụ máu dưới da vùng trán – thái dương trái, chấm hai bên; nứt sọ vùng thái dương trái, nằm ngang dài 11cm; máu tụ dưới màng cứng bán cầu não phải; dập phù não.
Kết luận: Nguyên nhân chết chấn thương sọ não nặng: máu tụ dưới màng cứng, dập phù não.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, Nguyễn Huỳnh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L bắt tạm giam để điều tra. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Huỳnh T khai nhận như nội dung vụ án. Xe mô tô 67C1-204.81 của Huỳnh Thị Diễm T1 (mẹ T) để sử dụng chung trong gia đình, T đã bồi thường cho gia đình bị hại 10.000.000 đồng.
Đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Phúc L (chồng của Lê Thị Ú, có đăng ký kết hôn), có hai con chung Nguyễn Thị Ngọc C và Nguyễn Đức H đã ủy quyền cho ông L tham gia tố tụng. Ông L đã nhận 10.000.000 đồng do T bồi thường và nhận lại xe đạp, không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKS, ngày 16/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh T về tội “Vi phạm quy định
về tham gia giao thông”, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Huỳnh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; về trách nhiệm dân sự: Đại diện của bị hại không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người đại diện của bị hại Lê Thị Ú là em H vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của em H không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Huỳnh T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 12 tháng 5 năm 2024 bị cáo Nguyễn Huỳnh T đã có hành vi điều khiển xe mô tô 02 bánh có dung tích xilanh từ 50cm3 đến dưới 175cm3 không giấy phép lái xe và trong tình trạng có sử dụng chất ma túy, không chú ý quan sát tại Km63+180 Quốc lộ I thuộc khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang bị cáo đã đụng vào xe đạp do bà Lê Thị Ú điều khiển cùng chiều phía trước, làm bà Ú bị thương nặng dẫn đến tử vong.
Bị cáo Nguyễn Huỳnh T điều khiển xe ô tô biển số 76C1-204.81 là nguồn nguy hiểm cao độ lẽ ra phải tuân thủ và chấp hành quy định, quy tắc an toàn khi tham gia giao thông đường bộ nhưng không tuân thủ, không chú ý quan sát gây tại nạn giao thông (vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; vi phạm điểm b khoản 7; điểm h khoản 8 điều 6 và điểm a khoản 5 điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP) gây ra tai nạn cho bà Lê Thị Ú tử vong.
Do vậy, Nguyễn Huỳnh T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt “Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (tội phạm rất nghiêm trọng)”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng và an toàn xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội và là bài học cảnh tỉnh cho những người tham gia giao thông không chấp hành pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Huỳnh T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi thiếu chú ý quan sát vượt xe khi có chướng ngại vật phía trước, không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng sử dụng ma túy là vi phạm nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội bồi thường thiệt hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt (đã từng bị kết án, nghiện ma túy).
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo làm cho người tham gia giao thông hoang mang lo sợ. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể
bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Do nghề nghiệp của bị cáo không liên quan đến việc lái xe nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra gia đình của bị hại Lê Thị Ú đã nhận được số tiền bồi thường 10.000.000 đồng do bị cáo bồi thường. Người đại diện của bà Ú không yêu cầu bồi thường thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét trách nhiệm dân sự trong vụ án.
[6] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra đã được trả lại cho chủ sử dụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Đối với Huỳnh Thị Diễm T1 không giao xe mô tô 67C1-208.81 cho Nguyễn Huỳnh T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự của bà T1 về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ.
Đối với người bán ma túy cho T chưa rõ nhân thân, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28/10/2024).
Căn cứ Điều 136 Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, ông Nguyễn Phúc L, em Nguyễn Thị Ngọc C, bà Huỳnh Thị Diễm T1, ông Dương Hiếu H1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án; em Nguyễn Đức H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bé Thu |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
