|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HS-PT Ngày: 19-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bích Văn Nhiên.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng và bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toàn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 122/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Luân Thế V, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2024/HS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Luân Thế V, sinh năm 1982, tại Bình Thuận; nơi cư trú: Tổ B, Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nơi tạm trú: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C bà Nguyễn Thị Lệ N; có vợ Nguyễn Thị Lệ T; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/9/2008, bị Toà án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 267/2008/HSST; chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2009, đã được xoá án tích; bị bắt, tạm giam ngày 26/02/2024, giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Luân Thế V: Ông Nguyễn Trung D, là luật sư của Văn phòng Luật sư C&C, số A Â, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; có mặt.
2
- Bị hại:
- Ông Lê Trần Trọng N1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ N2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Căn A chung cư B, Đ, phường Đ, Quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 31/3/2020, Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3401203387 cho Công ty cổ phần Đ (Gọi tắt là Công ty Đ); địa chỉ trụ sở C G, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Sau này chuyển địa chỉ trụ sở đến E N, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) do Nguyễn Luân T1 V làm Tổng giám đốc và người đại diện theo pháp luật của Công ty, ngành nghề kinh doanh bất động sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 12/5/2020 đến ngày 02/10/2020, do muốn chiếm đoạt tiền của khách hàng, Nguyễn Luân Thế V đã đưa ra những thông tin không đúng sự thật để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các khách hàng, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu năm 2020, Nguyễn Luân Thế V tìm kiếm thông tin về các căn hộ tại dự án khu nhà ở xã hội thuộc khu công nghiệp H, tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, chủ đầu tư là Công ty cổ phần T2 (Gọi tắt là Công ty Đ1) để lấy thông tin về căn hộ đăng bán trên trang mạng của Công ty Đ. Qua tìm kiếm V thấy căn hộ O22-06 thuộc dự án khu nhà ở xã hội được một người phụ nữ tên H (Không rõ nhân thân) đăng bán trên mạng xã hội. Thấy vậy, V lấy thông tin về căn hộ rồi đăng bán trên trang mạng của Công ty Đ. Lúc này, do có nhu cầu mua nhà để ở và thấy Công ty Đ giao bán căn hộ O22-06 phù hợp với điều kiện nên anh Lê Trần Trọng N1, liên hệ đến Công ty Đ gặp trực tiếp Nguyễn Luân Thế V để tìm hiểu thông tin về căn hộ O. Lúc này, để tạo niềm tin cho anh N1, mặc dù căn hộ trên không phải V mua lại của Công ty Đ1 nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của anh N1 nên V đã đưa ra thông tin sai sự thật, V nói với anh N1: “Căn hộ O22-06 hiện tại Công ty Đ đã mua lại của Công ty Đ1, căn hộ đang thi công đến giữa tháng 6 năm 2021 sẽ xong”. Thấy vậy, anh N1 tin tưởng căn hộ trên chủ sở hữu là Công ty đất vàng (Do V làm Tổng giám đốc) và đồng ý mua với giá hai bên thoả thuận là 665.000.000 đồng, giảm 5.000.000 đồng tiền hoa hồng cho anh N1, còn lại 660.000.000 đồng. Hình thức thanh toán, anh N1 đặt cọc trước 20% giá trị căn nhà là 132.000.000 đồng cho V, nhận nhà sẽ thanh toán số tiền còn lại là 528.000.000 đồng.
Sau khi thống nhất những nội dung trên thì ngày 12/5/2020, V hẹn anh N1 đến trụ sở của Công ty Đ tại C G, phường X, thành phố P để ký giấy biên nhận tiền đặt cọc và thanh toán số tiền 132.000.000 đồng. Tại giấy biên nhận tiền đặt cọc đề ngày 12/5/2020, ghi: “Bên mua: Lê Trần Trọng N1, bên bán:
3
Công ty Đất vàng do Nguyễn Luân T1 V làm Tổng giám đốc, tài sản bán: Nhà xã hội học - KCN1, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, giá bán 660.000.000 đồng, đặt cọc trước 132.000.000 đồng, Công ty Đ có trách nhiệm hoàn tất mọi thủ tục chuyển nhượng căn hộ trên cho anh N1 vào giữa năm 2021”. Tuy nhiên, do không phải là chủ sở hữu của căn hộ O22-06 nên sau khi nhận số tiền đặt cọc trên từ anh Nghĩa V1 đã không thực hiện việc chuyển nhượng căn hộ như đã cam kết mà sử dụng số tiền trên vào mục đích cá nhân. Đến tháng 6/2021, anh N1 tìm gặp V1 để hỏi về việc chuyển nhượng căn hộ thì V1 tiếp tục nói: “V1 không có tài chính mua căn hộ trên để bàn giao cho anh N1, V1 tiếp tục hẹn anh N1 đến tháng 7 hoặc tháng 9 năm 2021 sẽ bàn giao căn hộ”. Lúc này, anh N1 nghi ngờ V1 nên đã yêu cầu V1 đến Văn phòng C1 đường T, phường P, thành phố P để làm Hợp đồng cam kết về việc giao căn hộ nhưng khi đến văn phòng C2 thì V1 bỏ chạy. Anh N1 liên hệ nhiều lần với V1 nhưng không được nên đã nộp đơn tố cáo.
Quá trình điều tra xác định: Chủ sở hữu của căn hộ O là ông Nguyễn Minh M. Do không đủ điều kiện để đứng tên mua căn hộ nên ông M nhờ chị Nguyễn Thị Hồng N3 đứng tên để mua căn hộ O22-06. Đầu năm 2020, ông M nhờ chị Bùi Quang Hồng H1 rao bán căn hộ O22-06 (Lúc này chị H1 đang là nhân viên của Công ty Đ1) thì chị H1 đồng ý và đăng thông tin rao bán căn hộ O22-06 lên mạng xã hội. Theo lời khai của chị H1: Vào khoảng tháng 3/2020, Nguyễn Luân T1 V1 gọi điện cho chị H1 giới thiệu là Tổng giám đốc Công ty Đ và hỏi thông tin về căn hộ trên để V1 bán giúp hưởng tiền môi giới, chị H1 đồng ý gửi thông tin về căn hộ O22-06 và báo giá bán căn hộ trên cho V1. Lúc này, V1 nói: “Khoảng 15 ngày sau sẽ có khách hàng đặt cọc” nhưng khi chị H1 liên hệ lại thì V1 nói: “Khách không đặt cọc nữa”. Sau đó, V1 và chị H1 không liên lạc với nhau; V1 cũng không đưa tiền cọc cho chị H1 (Qua đối chất: V1 không thừa nhận việc lấy thông tin bán căn hộ O22-06 từ chị H1, cũng không gặp chị H1 để trao đổi về việc môi giới bán căn hộ trên). Đến tháng 6/2020, chị H1 nghỉ việc tại Công ty Đ1 nên đã trả lại toàn bộ giấy tờ về căn hộ cho ông M. Sau khi nhận lại giấy tờ từ chị H1 ông M không rao bán và cũng không nhờ ai giao bán căn hộ trên. Ông M cũng không gặp V1 và không nhận tiền cọc căn hộ trên từ V1.
Về dân sự: Hiện tại V1 đã tác động gia đình trả lại số tiền 84.500.000 đồng cho anh N1. Anh N1 yêu cầu V1 tiếp tục bồi thường số tiền 47.500.000 đồng còn lại. Ngoài ra, anh N1 yêu cầu V1 bồi thường thêm tiền tổn thất tinh thần do hành vi chiếm đoạt tài sản của V1 làm gia đình anh N1 không có tiền để lo cho cuộc sống gia đình và tiền V1 không thực hiện việc chuyển nhượng căn hộ theo giấy biên nhận đặt cọc (Số tiền cụ thể anh N1 sẽ yêu cầu tại phiên toà).
Lần thứ thứ 2: Vào khoảng 09 năm 2020, chị Nguyễn Thị Mỹ N2 mua thửa đất số 800, tờ bản đồ số 02, diện tích 100m² đất hoa màu tại phường P, thành phố P của bà Nguyễn Thị L và ông Tăng Văn S cùng trú tại Khu phố C, phường P, thành phố P. Do thửa đất trên là đất hoa màu nên chưa được tách sổ và lên thổ cư. Vì muốn được tách sổ và chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư
4
nên chị N2 đã lên mạng xã hội tìm kiếm người trung gian có thể giúp chị N2 làm các thủ tục trên. Qua tìm kiếm chị N2 thấy bài đăng trên trang mạng của Công ty Đ với nội dung: “Công ty Đ có nhận mua bán, ký gửi, nhà đất, dịch vụ làm thủ tục liên quan đến đất đai” nên chị N2 đã liên hệ đến số điện thoại của Công ty Đ để được tư vấn thì gặp chị Nguyễn Thị M1 là nhân viên của Công ty Đ. Lúc này, chị M1 hướng dẫn chị N2 đến trụ sở của Công ty Đ gặp Nguyễn Luân Thế V để trao đổi.
Ngày 01/10/2020, chị N2 đến Công ty Đ tại số E N, phường P, thành phố P gặp V. Tại đây, chị N2 đưa các giấy tờ liên quan đến thửa đất cho V xem và nói rõ nguyện vọng muốn được tách sổ và chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư đối với thửa đất trên. Sau khi xem hồ sơ xong, V nói: “Hồ sơ đã đầy đủ các giấy tờ cần thiết để tách sổ và chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư”. Lúc này, để tạo sự tin tưởng cho chị N2, V nói: “V có quen biết với nhiều người làm lớn tại thành phố P nên chắc chắn sẽ tách sổ và chuyển đổi mục đích sử dụng đất lên thổ cư được cho chị N2, hồ sơ của chị N2 nhanh nhất cuối tháng 11 năm 2020 sẽ xong”. V báo giá cụ thể phí dịch vụ là 3.500.000 đồng, phí tách sổ là 25.000.000 đồng, chị N2 tin tưởng và đồng ý.
Ngày 02/10/2020, ông S, bà L cùng với chị N2 và V đi đến văn phòng C3 T, thành phố P để làm Hợp đồng uỷ quyền cho V. Hợp đồng ủy quyền ghi: “Ông S và bà L uỷ quyền cho V liên hệ với Chi nhánh Văn phòng Đ2 và các cơ quan chức năng để đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 800, tờ bản đồ số 02, diện tích 100m², đất hoa màu tại phường P, thành phố P. Sau đó, chị N2 đi cùng V đi về Công ty Đ. Tại đây, chị N2 thanh toán tiền mặt 3.500.000 đồng phí dịch vụ (Có giấy biên nhận). Đến ngày 05/10/2020, chị N2 chuyển phí tách sổ là 25.000.000 đồng vào tài khoản Công ty Đ (Số tài khoản 050117590345, ngân hàng S1). Ngày 14/10/2020, để tạo sự tin tưởng cho chị N2, V nhắn tin qua Zalo cho chị N2 nói: “14 giờ ngày 14/10/2020, bên bộ phận một cửa sẽ xuống đo đạc diện tích đất để bắt đầu làm các thủ tục” (Thực tế V chưa nộp hồ sơ của chị N2 đến bộ phận một cửa). Lúc này, V đi với với nhân viên Công ty Đ đến thửa đất của chị N2 mục đích làm cho chị N2 tin tưởng đã có bộ phận một cửa xuống đo đất. Sau đó, V nhắn tin qua Z cho chị N2 nói: “Đã đo đạc xong và đã xong thủ tục phần tách sổ, bên một cửa báo số tiền 72.000.000 đồng để chuyển đổi mục đích lên thổ cư và sẽ hoàn thành toàn bộ công việc tách sổ và lên thổ cư đất của chị N2 trong tháng 11 năm 2020”. Do tin tưởng đã có bộ phận một cửa đo đất và làm xong thủ tục phần tách sổ nên chị N2 tiếp tục chuyển số tiền 72.000.000 đồng vào tài khoản của Công ty Đất vàng cụ thể (Lần 1: 50.000.000 đồng và lần 2: 22.000.000 đồng). Tổng số tiền chị N2 chuyển cho V là 100.500.000 đồng (Qua đối chất, V khai chỉ nhận 100.000.000 đồng từ chị N2). Sau khi nhận số tiền trên từ chị N2, V đã không nộp hồ sơ đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm hồ sơ xin tách sổ và chuyển đổi mục đích sử dụng đất lên thổ cư cho chị N2 mà sử dụng số tiền trên vào mục đích cá nhân.
5
Đến tháng 11 năm 2020, chị N2 nhắn tin qua Zalo cho V hỏi: “Đã làm xong thủ tục chưa?” V nói: “Đã nộp hồ sơ bên bộ phận một cửa rồi nhưng chưa có ai giải quyết vì các cán bộ làm giấy tờ đất đang bị điều tra và đã bị bắt vài người nên hồ sơ chưa xong”. Lúc này, chị N2 yêu cầu V cung cấp giấy biên nhận của các cơ quan chức năng thể hiện việc V đã nộp hồ sơ đến bộ phận một cửa nhưng V không cung cấp được. Ngày 07/01/2021, chị N2 đến Công ty Đ gặp trực tiếp V. Tại đây, chị N2 yêu cầu V trả hồ sơ và tiền cho chị N2 nhưng V chỉ trả hồ sơ cho chị N2, tiền V không trả. Đến chiều ngày 07/01/2021, chị N2 yêu cầu V đến Công an phường P để làm việc. Tại đây, V đã trả lại toàn bộ hồ sơ bản gốc và trả cho chị N2 14.000.000 đồng, ngày 11/01/2021, V chuyển khoản cho chị N2 5.000.000 đồng, còn lại 81.500.000 đồng V không trả nên chị N2 đã nộp đơn tố cáo V. Cuối năm 2023, V đã trả hết số tiền 100.000.000 đồng cho chị N2 nên chị N2 không có yêu cầu gì về dân sự.
Ngoài ra, còn có 02 hồ sơ có sự việc chủ sở hữu nhờ V bán đất. Khi có khách hỏi mua đất V vẫn nói rõ nguồn gốc đất cho khách hàng biết và đồng ý mua. Việc V không thực hiện được như cam kết thì V đã trả lại tiền cọc cho khách hàng. Do đó, V không phải chịu trách nhiệm hình sự về 02 hồ sơ này.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2024/HS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Luân Thế V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Luân T1 V 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/02/2024.
Ngoài ra, tòa sơ thẩm còn tuyên về bồi thường dân sự, tiền án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Về kháng cáo: Ngày 07/10/2024, bị cáo Nguyễn Luân Thế V kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm xử oan sai.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tại phiên toà, bị cáo đã nhận tội và khắc phục toàn bộ hậu quả vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Luân Thế V, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2024/HS-ST ngày 02/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết giảm cho bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Vì tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại đủ số tiền án sơ thẩm đã tuyên, bị cáo đã nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải qua hành vi sai trái của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt
6
bị cáo.
- Bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo xin nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đủ số tiền cho bị hại như án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Luật sư Nguyễn Trung D bào chữa cho bị cáo: Đồng ý lời phát biểu luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Bị cáo đã nhận tội và đã khắc phục xong hậu quả; cha mẹ bị cáo là người có công với đất nước, bị hại cũng có một phần lỗi, vì biết nhà ở xã hội nhưng vẫn đặt cọc để mua. Vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt điều luật quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình: Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Luân Thế V, làm Tổng giám đốc và người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ). Vào ngày 12/5/2020, tại Công ty Đất Vàng địa chỉ số C G, phường X, thành phố P, Nguyễn Luân Thế V đã đưa ra thông tin không đúng sự thật rằng căn hộ O, khu nhà ở xã hội thuộc khu công nghiệp H, huyện H do Công ty Đ (Do V làm Tổng giám đốc) đã mua lại của Công ty Đ1 làm cho ông Lê Trần Trọng N1 tin căn hộ O22-06 là của V chủ sở hữu nên đã đồng ý mua và đặt cọc trước 132.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền đặt cọc từ ông N1, V không thực hiện được việc chuyển nhượng căn hộ như thỏa thuận mà chiếm đoạt tiền sử dụng cho cá nhân. Tiếp tục ngày 02/10/2020, tại Công ty Đất Vàng địa chỉ số E N, phường P, thành phố P, Nguyễn Luân Thế V đã đưa ra thông tin rằng mình quen biết với nhiều cán bộ làm lớn tại thành phố P có thể làm thủ tục tách sổ và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp lên đất thổ cư cho bà Nguyễn Thị Mỹ N2 với số tiền công thoả thuận là 100.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của bà N2, V không thực hiện được như thỏa thuận mà chiếm đoạt tiền của bà N2 để sử dụng cho cá nhân. Như vậy, tổng số tiền V chiếm đoạt của các bị hại là 232.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Về kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Luân Thế V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Vì bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động
7
gia đình bồi thường đủ cho bị hại số tiền như án sơ thẩm đã tuyên; cha mẹ bị cáo là người có công với đất nước, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Căn cứ điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Luân Thế V; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 222/2024/HS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết:
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 48; Điều 50; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Luân Thế V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Luân T1 V 03 (Ba) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/02/2024. - Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Luân Thế V hoàn trả số tiền 38.900.000 đồng (Ba mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng) cho ông Lê Trần Trọng N1. Tiếp tục tạm giữ số tiền 39.100.000 đồng (Ba mươi chín triệu một trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 0000631 ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Luân Thế V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Luân Thế V phải nộp 1.945.000 đồng (Một triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
8
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính kể từ ngày tuyên án (Ngày 19/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bích Văn Nhiên |
Bản án số 19/2025/HS-PT ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 19/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Luân Thế V phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
