TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19/02/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con,
tài sản khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Như Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Thắm
- Ông Huỳnh Đức Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bình Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 588/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm: 1983. Địa chỉ: số D, ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Bà Hồ Thị Kim Y, sinh năm: 1989. Địa chỉ: số D, ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ liên hệ: số A đường Đ, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre
Tại phiên tòa: ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Phan Văn T trình bày:
Ông và bà Y chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện. Ông và bà Y sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến tình hình căng thẳng không thể hàn gắn được. Do không còn tình cảm và không thể nào sống chung được nữa nên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Y.
Về con chung: trong thời gian chung sống, ông và bà Y có 02 người con chung là Phan Ngọc Kim T1, sinh ngày 18/02/2007 và Phan Hữu T2, sinh ngày 17/8/2013. Từ khi ông nộp đơn khởi kiện ly hôn đến nay, cháu T1 sống chung với bà Y, cháu T2 sống chung với ông. Tại đơn khởi kiện, đối với cháu T1 ông đồng ý để bà Y trực tiếp nuôi và ông không cấp dưỡng nuôi con, đối với cháu T2 thì hiện đang sống với ông, ông yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu T2 và không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, đến ngày xét xử cháu T1 đã thành niên nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông vẫn giữ yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu T2.
Về tài sản chung: ông T khai ông và bà Y có tài sản chung là số tiền 500.000.000 đồng, nguồn tiền có được trong thời kỳ hôn nhân, do ông và bà Y chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình tích cóp được, số tiền này do bà Y gửi tiết kiệm trong Ngân hàng nhưng theo ông biết bà Y đã rút hết, hiện số tiền do bà Y đang giữ. Sau ly hôn, ông T yêu cầu chia ½ số tiền trên, bà Y có trách nhiệm giao cho ông số tiền 250.000.000 đồng.
Về nợ chung: ông T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Hồ Thị Kim Y trình bày:
Bà và ông T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện. Bà và ông T sống hạnh phúc đến khoảng tháng 11/2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc nhau, không có khả năng hàn gắn nên ông T yêu cầu ly hôn thì bà cũng đồng ý.
Về con chung: trong thời gian chung sống, bà và ông T có 02 người con chung là Phan Ngọc Kim T1, sinh ngày 18/02/2007 và Phan Hữu T2, sinh ngày 17/8/2013. Sau ly hôn, bà đồng ý để ông T trực tiếp nuôi hai con chung và bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: bà Y khai bà và ông T có tài sản chung là số tiền 500.000.000 đồng, số tiền này do bà giữ, hiện bà đã sử dụng. Sau ly hôn, bà đồng ý chia ½ số tiền trên, bà Y sẽ giao cho ông T số tiền 250.000.000 đồng.
Về nợ chung: bà Y khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến về tố tụng và nội dung:
- * Về tố tụng:
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đầy đủ theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- * Về nội dung: căn cứ các điều 56, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn T.
- Về hôn nhân: ông Phan Văn T được ly hôn với bà Hồ Thị Kim Y.
- Về con chung: ông Phan Văn T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phan Hữu T2, sinh ngày 17/8/2013 cho đến khi thành niên. Ghi nhận ông T không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi cháu T2. Cháu Phan Ngọc Kim T1, sinh ngày 18/02/2007 đã thành niên nên không xem xét.
- Về tài sản chung: ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y khai trong quá trình chung sống ông, bà có tài sản chung là số tiền 500.000.000 đồng. Bà Y có trách nhiệm giao cho ông T số tiền 250.000.000 đồng.
- Về nợ chung: ông Phan Văn T và và Hồ Thị Kim Y khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn là ông Phan Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn với bị đơn là bà Hồ Thị Kim Y - cư trú tại xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Phan Văn T, bà Hồ Thị Kim Y.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 15/11/2007 theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Trong thời gian chung sống, hai bên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến tình hình căng thẳng không thể hàn gắn được. Hiện tại, ông T yêu cầu ly hôn thì bà Y cũng đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân của ông T, bà Y đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông T với bà Y và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về con chung: ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y có 02 con chung là Phan Ngọc Kim T1, sinh ngày 18/02/2007 và Phan Hữu T2, sinh ngày 17/8/2013.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Qua quá trình tố tụng, cháu T1 đã thành niên, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Đối với cháu T2, mặc dù tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên ngày 15/01/2025, cháu T2 có ý kiến muốn sống với bà Y nhưng ông T có yêu cầu trực tiếp nuôi cháu T2 và bà Y cũng đồng ý giao cháu T2 cho ông T trực tiếp nuôi. Hiện cháu T2 đang sống với ông T, được ông T đưa rước cháu đi học tại Trường trung học cơ sở T4 và chăm sóc tốt cho cháu T2. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu T2 thành niên, tự lao động sinh sống được. Ghi nhận ông T không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi cháu T2.
[2.3] Về tài sản chung: ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y khai trong quá trình chung sống có tài sản chung là 500.000.000 đồng và đồng ý chia đôi số tiền trên. Bà Y đồng ý giao cho ông T số tiền 250.000.000 đồng.
[2.4] Về nợ chung: ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về án phí: Ông Phan Văn T và bà Hồ Thị Kim Y phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn T.
- Về hôn nhân: ông Phan Văn T được ly hôn với bà Hồ Thị Kim Y.
- Về con chung: giao cháu Phan Hữu T2, sinh ngày 17/8/2013 cho ông Phan Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T2 thành niên. Cháu Phan Ngọc Kim T1, sinh ngày 18/02/2007 đã thành niên nên không xem xét.
Ông Phan Văn T không yêu cầu bà Hồ Thị Kim Y cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Hồ Thị Kim Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: chia đôi tài sản chung là số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, bà Hồ Thị Kim Y có trách nhiệm giao cho ông Phan Văn T số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về nợ chung: ông Phan Văn T3 và bà Hồ Thị Kim Y khai không có nợ chung, không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí:
- Ông Phan Văn T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí chia tài sản chung (250.000.000 đồng x 5%) là 12.500.000 (mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007416 và 6.250.000 (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007417, cùng ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Ông Phan Văn T còn phải nộp số tiền là 6.250.000 (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Bà Hồ Thị Kim Y phải nộp án phí chia tài sản chung (250.000.000 đồng x 5%) là 12.500.000 (mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã Thạnh Phú Đông; huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Giồng Trôm; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Như Thắm |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Phan Thị Thắm | Huỳnh Như Thắm |
Huỳnh Đức Tâm |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Trương Văn Te | Phạm Thị Thu Trang | Phạm Ngọc Ánh |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con, tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Thưởng ly hôn, tranh chấp về con và tài sản khi ly hôn với Hồ Thị Kim Yến
