Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/02/2025

V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Nhiên
  2. Ông Nguyễn Thanh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 385/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/10/2024, về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Q, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Kiều Quốc B, Sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt Q, vắng mặt ông B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 10 năm 2024, cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Q trình bày: Bà và ông B tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau chung sống với nhau từ năm 2002, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận ngày 16/10/2003, theo giấy chứng nhận kết hôn số 207/2003 của UBND xã H. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung sống hạnh phúc, tới năm 2017 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xãy ra mâu thuẫn là do ông B thay đổi tính nết, thường xuyên xay xỉn đánh đập bà dẫn tới vợ chồng thường xuyên cải vã, việc này xãy ra liên tục khiến cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng nặng nề. Từ tháng 9/2024 đến nay, bà dẫn theo các con ra ở riêng, từ đó hai vợ chồng ly thân, từ khi ly thân đến nay vợ chồng không ai thăm hỏi ai, mạnh ai nấy sống. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 04 người con chung gồm: Kiều Quốc N, sinh ngày 23/11/2002; Kiều Quốc H, sinh ngày 17/4/2005; Kiều Thanh N1, sinh ngày 25/02/2015 và Kiều Quốc H1, sinh ngày 23/6/2017. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn bà Phạm Thị Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Q yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Kiều Quốc B.
  • - Về con chung: Sau khi ly hôn, hai người con đầu đã đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Còn hai người con tên Kiều Thanh N1, sinh ngày 25/02/2015 và Kiều Quốc H1, sinh ngày 23/6/2017, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông B cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*/ Quá trình giải quyết vụ án, ông Kiều Quốc B trình bày: Thời gian gần đây vợ chồng có xãy ra mâu thuẫn do ông có chửi và đánh bà Q. Ông vẫn còn tình cảm với bà Q nên không đồng ý ly hôn với bà Q, nếu trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông giao các con chung cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải và tiến hành niêm yết hợp lệ cho bị đơn nhưng vắng mặt, nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Phạm Thị Q có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Kiều Quốc B. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại thôn L, xã H, huyện H, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn ông Kiều Quốc B tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Bởi lẽ, ông B đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông B tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông B.

[3] Đối với việc tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc: Trong vụ án này, Tòa án không phải thu thập chứng cứ nên theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án không cần phải có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

[4] Về nội dung:

[4.a] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: bà Q và ông B tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận ngày 16/10/2003 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống, do ông B thường xuyên đánh đập chửi bới bà Q dẫn tới mâu thuẫn, mâu thuẫn xãy ra liên tục trong thời gian dài, cuộc sống luôn căng thẳng nặng nề. Từ tháng 9/2024 đến nay, vợ chồng không còn chung sống với nhau, không quan tâm gì đến nhau. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mạnh ai nấy sống, không còn tha thiết gì với hôn nhân của mình. Quá trình giải quyết vụ án, ông B cũng thừa nhận có chửi bới đánh đập bà Q. Tại phiên tòa, bà Q kiên quyết ly hôn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà Q xin ly hôn với ông B là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.b] Về con chung: Vợ chồng có 04 người con chung gồm: Kiều Quốc N, sinh ngày 23/11/2002; Kiều Quốc H, sinh ngày 17/4/2005; Kiều Thanh N1, sinh ngày 25/02/2015 và Kiều Quốc H1, sinh ngày 23/6/2017. Hai người con đầu đã đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Hai người con tên Kiều Thanh N1, sinh ngày 25/02/2015 và Kiều Quốc H1, sinh ngày 23/6/2017, khi ly hôn bà Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét từ khi ly thân cháu N1 và cháu H1 ở với bà Q, tại bản khai của cháu N1 và cháu H1 mong muốn được ở với bà Q, ông B cũng đồng ý giao cho bà Q trực tiếp nuôi và để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nghĩ nên giao cháu N1 và cháu H1 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Q không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung cho bà nên không xét.

Ông B có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

[4.c] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Bà Phạm Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Q
    • - Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Q được ly hôn với ông Kiều Quốc B
    • - Về con chung: Giao cháu Kiều Thanh N1, sinh ngày 25/02/2015 và Kiều Quốc H1, sinh ngày 23/6/2017 cho bà Phạm Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Q không yêu cầu ông B cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà.
    • Ông B có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
    • - Về tài sản chung, và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí:
  3. Bà Phạm Thị Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013729 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Bà Q đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. ông B không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

  4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/02/2025). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • -Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • -Các đương sự;
  • -UBND(Nơi đăng ký kết hôn);
  • -Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Hơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger