Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 13-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Huy và bà Nguyễn Thị Mai Hoa.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 14/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 03/2/2025, đối với bị cáo:

BÙI VĂN H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 3 năm 1992; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Nguyễn Hoài T và có 02 con.

Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

Bị hại: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1967, địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Ông Dương Thế Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn H có Giấy phép lái xe mô tô hạng D có giá trị đến ngày 20/01/2027, là lái xe hợp đồng cho ông Nguyễn Văn T2, H được ông T2 giao quản lý, điều khiển xe ô tô tải BKS 20C-094.25 để đi làm. Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 26/3/2024, H điều khiển xe ô tô tải BKS 20C-094.25 chở theo bà Nguyễn Thị T3 là vợ ông T2 ngồi ở ghế phụ lái đi trên đường Quốc lộ 3 theo hướng huyện P đi đảo tròn T. Khi đi đến Km75 + 300 Quốc lộ C đoạn thuộc tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, H tăng tốc, chuyển hướng rẽ phải để nhập vào đường C - Hà Nội. Tuy nhiên, do không chú ý quan sát nên trong quá trình chuyển hướng, phần ốp kim loại của đèn tín hiệu gầm xe ô tô tải BKS: 20C - 094.25 do H điều khiển đã va chạm vào phần tay cầm phía sau (tay xách) xe mô tô Honda Lead BKS: 20E1-399.47 do bà Lê Thị T1 điều khiển đang đi phía trước cùng chiều. Sau khi đâm va, H lập tức dừng xe để kiểm tra thì phát hiện bà T1 cùng xe mô tô BKS: 20E1 - 399.47 nằm ở gầm phía trước đầu xe ô tô tải. H đã đưa bà T1 đi cấp cứu tại Bệnh viện T4.

Hậu quả:

Bà T1 bị tụ máu ngoài màng cứng vùng hố sau bán cầu tiểu não phải, xuất huyết dưới nhện; vỡ xương chẩm phải; gãy xương chỉnh mũi; liệt dây thần kinh số VII ngoại biên và các tổn thương phần mềm khác.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 524/KLTTCT-TTPY ngày 19/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận:

  1. Các kết quả chính: Ở khuyết xương sọ vùng chẩm đường kính 2,7cm, đã được vá bằng xương tự thân và ổ khuyết xương sọ sát nền sọ phải đường kính 3cm, tổn thương nhu mô não, tụ máu ngoài màng cứng, xuất huyết dưới nhện, tổn thương tháp mũi, tổn thương nhánh thần kinh số VII đã phục hồi, hiện tại có 01 sẹo phần mềm vùng mặt KT trung bình, 02 sẹo phần mềm vùng mặt KT nhỏ và 01 sẹo phần mềm KT trung bình.
  2. Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị T1 tại thời điểm giám định là: 65%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Xe ô tô tải mang BKS: 20C - 094.25, đã qua sử dụng, bị thiệt hại: S, hàn lại phần ốp dưới của ba đờ sốc đầu xe. Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Lead, BKS 20E1- 399.47, đã qua sử dụng, bị thiệt hại: 01 yếm nhựa thân xe bên phải, 01 phần nhựa để chân trước, 01 ốp inox để chân bên trái; gò nắn, hiệu chỉnh giá sau bên trái, tay phanh, sơn các phần vỏ xe bị xước, móp méo, lắp đặt các chi tiết thay mới.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1211/KL-HĐĐG ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Thái Nguyên và Công văn số 260/HĐĐGTS ngày 11/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Giá trị thiệt hại đối với những hư hỏng trên xe ô tô mang BKS: 20C - 094.25 tại thời điểm định giá tháng 3/2024 là 200.000 đồng. Giá trị thiệt hại đối với những hư hỏng trên xe mô tô BKS: 20E1 - 399.47 tại thời điểm định giá tháng 3/2024 là 829.000 đồng.

Sau khi xảy ra tai nạn, Phòng C Công an tỉnh T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan, thu thập dấu vết để xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn. Đến ngày 22/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã dựng lại hiện trường vụ tai nạn. Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:

  • Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường giao nhau có vòng xuyến thuộc chiều đường B - Thái Nguyên rẽ vào đường C - Hà Nội, có mặt đường rộng tính từ mép đường chuẩn đến mép đường trên là 28m, mặt đường được trải nhựa phẳng, bên phải đường hướng Bắc Kạn – Thái Nguyên có biển R303.
  • Chọn cột điện số 2.22 T5 và tâm đường đường làm điểm mốc cố định.
  • Chọn mép đường bên phải hướng Bắc Kạn - Thái Nguyên làm mép đường chuẩn.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

  • Kí hiệu (1) trên hiện trường là vết cà trượt (18,1x0,02)m có chiều Bắc Kạn – Thái Nguyên, đo từ đầu (1) đến mép đường chuẩn là 4,5m, điểm cuối (1) trùng với để chân sau bên phải (6) .
  • Kí hiệu (2) trên hiện trường là vết mài trượt màu đen kích thước (5,3x0,4)m. Đo từ tâm đầu (2) đến mép đường chuẩn là 5,4m, điểm cuối (2) dưới mặt lăn bánh cuối cùng bên trái (4) có chiều hướng Bắc Kạn – Thái Nguyên.
  • Kí hiệu (3) trên hiện trường là vết mài trượt màu đen kích thước (2x0,4)m đo từ điểm tâm đầu (3) đến mép đường chuẩn là 3.75m, điểm cuối (3) dưới mặt lăn bánh cuối cùng bên phải (4) có chiều Bắc Kạn – Thái Nguyên.
  • Kí hiệu (4) trên hiện trường là xe ô tô tải BKS 20C-094.25 đỗ trên mặt đường QL3, đầu xe quay hướng Thái Nguyên chếch chéo về đường C - Hà Nội CT 07. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải (4) (trục bánh bên phải bánh thứ nhất của xe) đến mép đường chuẩn là 4,7m, đo từ tâm trục bánh cuối cùng phía sau bên phải (4) (trục bánh thứ 4 của xe) đến mép đường chuẩn là 3,7m.
  • Ký hiệu (5) vùng máu loang trên mặt đường kích thước (1,3x0,8)m, đo từ tâm (5) đến mép đường chuẩn là 5m.
  • Ký hiệu (6) là xe mô tô BKS 20E1-399.47 đổ nghiêng bên phải xuống mặt đường QL3, đầu xe quay hướng đảo tròn, đuôi xe quay hướng mép đường chuẩn.

Đo từ tâm trục bánh trước (6) đến mép đường chuẩn là 7,9m, đo từ tâm trục bánh sau (6) đến mép đường chuẩn là 6,7m.

Đo trực tiếp từ cột điện 2.22 TBA Tân Long đến tâm trục bánh sau cùng bên phải xe (4) (Trục 4 của xe) là 16,5m.

Đo trực tiếp từ tâm đảo tròn đến tâm trục sau cùng bên trái của xe (4) (trục 4) là 41,5m.

Đo từ điểm đầu (1) đến tâm đầu (2) là 0,8m.

Đo từ tâm đầu (2) đến tâm đầu (3) là 2,1m.

Đo từ tâm trục bánh trước bên trái của hàng bánh thứ nhất xe (4) đến tâm trục bánh trước xe (6) là 0,9m.

Đo từ tâm trục bánh của hàng bánh thứ 3 bên phải xe (4) đến tâm (5) là 1m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện đối với xe ô tô tải BKS 20C-094.25:

  • Tại ốp kim loại của đèn tín hiệu (gầm xe) có vết trượt xước kim loại bám dính vật chất màu xám dạng nhựa kích thước (10x0,02) cm, có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 70cm, cách mép ngoài bên phải của ốp kim loại 60,5cm.
  • Góc bên phải cản trước có vùng trượt xước nhựa kích thước (85x10) cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 53cm, có chiều từ trước về sau, có chiều từ dưới lên trên.
  • Góc trái cản trước có dấu của rách nhựa, trượt xước kích thước (10x8) cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 48cm.
  • Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống còi, phanh, đèn đầy đủ có tác dụng.
  • Đặc điểm, tình trạng hàng hóa trên phương tiện: Xe chở 17.330 kg hàng hóa.

Kết quả khám nghiệm phương tiện đối với xe mô tô BKS 20E1-399.47:

  • Tay cầm phía sau có vùng vỡ nhựa kích thước (0,8x0,7) cm, có chiều từ sau về trước, điểm cao nhất cách mặt đất 82cm; đầu tay cầm góc bên phải có vùng trượt xước nhựa kích thước 1x0,5 cm, chiều từ sau về trước, điểm gần nhất cách đầu tay cầm bên trái 5,5cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 76 cm.
  • Ốp nhựa dưới để chân bên trái phía trước có vùng trượt xước vỡ nhựa kích thước (15x3) cm, chiều từ sau về trước.
  • Đầu tay phanh phía trước bên phải có vết trượt xước kim loại kích thước 1x1 cm.
  • Thân chân gương bên phải có vết mài trượt kim loại kích thước (1,5x1) cm.
  • Cạnh cánh yếm bên phải có vết trượt mài trượt xước nhựa kích thước (45x1) cm, chiều từ trước về sau.
  • Ốp nhựa dưới để chân bên phải phía trước có vùng trượt xước nhựa kích thước (35x12) cm có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới.
  • Để chân sau bên phải ở tư thế gập và ốp nhựa để chân có vết trầy xước nhựa và kim loại kích thước (9x5) cm, có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới.
  • Sườn xe bên phải có vết mài trượt nhựa kích thước (10x8) cm có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới.
  • Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống còi, đèn đầy đủ, phanh có tác dụng, 02 bánh lốp còn hơi.

* Ngày 26/3/2024, kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Bùi Văn H tại Bệnh viện T4 là 0,56 mmol/L máu (chỉ số bình thường là nhỏ hơn hoặc bằng 1,76 mmol/L).

Kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu của Bùi Văn H tại Bệnh viện T4 là âm tính với các loại ma túy.

Căn cứ và o biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, biên bản xác minh thương tích bệnh án, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng đã đủ căn cứ để xác định nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông là do Bùi Văn H không tuân thủ nghiêm Luật Giao thông đường bộ, điều khiển xe ô tô BKS 20C-094.25 tham gia giao thông khi chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông, hậu quả khiến bà Lê Thị T1 bị tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương là 65%.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện; Bệnh án; Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống; Kết luận định giá tài sản, lời khai của người làm chứng.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra tai nạn, Bùi Văn H đã bồi thường cho gia đình bà T1 số tiền 85.000.000 đồng là tiền viện phí, điều trị phục hồi chức năng và sửa chữa phương tiện. Bà T1 đã nhận đủ tiền và không có ý kiến gì. Phần dân sự đã giải quyết xong.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG; BKS: 20C-094.25, tình trạng đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 4680120, biển số đăng ký: 20C-094.25; 01 giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số [...]; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, BKS: 20E1-399.47, tình trạng đã qua sử dụng; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001146, biển số đăng ký 20E1-399.47, tên chủ xe: Lê Thị T1; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô – xe máy số 2300348711, biển số đăng ký 20E1-399.47, tên chủ xe: Lê Thị T1. Ngày 12/4/2024, Phòng C Công an tỉnh T đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T3 và bà Lê Thị T1 quản lý, sử dụng.
  • 01 giấy phép lái xe hạng D, số: [...] mang tên Bùi Văn H có giá trị đến ngày 20/01/2027; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số: [...] mang tên Lê Thị T1, có giá trị đến không thời hạn. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-TPTN ngày 11/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xác định bản cáo trạng của VKS nhân dân thành phố T truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
  4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, không đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm giải quyết.
  5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng D số [...] mang tên Bùi Văn H; trả lại cho bà Lê Thị T1 01 giấy phép lái xe hạng A1, số: [...] mang tên Lê Thị T1.
  6. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận:

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 26/3/2024, Bùi Văn H điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát 20C- 094.25 tham gia giao thông trên đường Q hướng từ Bắc Kạn đi thành phố T, khi đi đến đảo tròn T (Km75+300) đoạn thuộc, tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, H điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải đi vào đường C - Hà Nội do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên phần ốp kim loại của đèn tín hiệu gầm xe ô tô tải BKS 20C – 094.25 do H điều khiển đã va chạm vào phần tay cầm phía sau xe mô tô do bà Lê Thị T1 đang điều khiển phía trước, cùng chiều, gây tai nạn giao thông, gây thiệt hại sức khỏe cho bà T1 với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 65%.

[3] Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.

Luật Giao thông đường bộ quy định như sau:

“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

...23. ...Hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

“Điều 15. Chuyển hướng xe

...2. Trong khi chuyển hướng xe, người lái xe....chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thất không trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.

[4] Cáo trạng số 20/CT-VKS-TPTN ngày 11/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

b. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

[5] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

[6] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn, hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hại cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị tại địa phương.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5, Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 85.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì; ông Nguyễn Văn T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại đối với chiếc xe mô tô BKS 20C -094.25. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng D số [...] mang tên Bùi Văn H và 01 giấy phép lái xe hạng A1, số: [...] mang tên Lê Thị T1, xét thấy cần trả lại cho bị cáo H và bà T1 quản lý, sử dụng.

[11]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[12]. Về án phí và quyền kháng cáo:

  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Giao bị cáo Bùi Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho Bùi Văn H 01 (một) giấy phép lái xe hạng D số [...] mang tên Bùi Văn H có giá trị đến ngày 20/01/2027; trả lại cho bà Lê Thị T1 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, số: [...] mang tên Lê Thị T1.

    Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 120, ngày 13/02/2025 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.

Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Hùng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger