Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 13/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt.

Bà Lê Thị Minh Khánh.

Ông Nguyễn Văn Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cường- Kiểm sát viên.

Trong ngày 13/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 19/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST- HS ngày 03/01/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/HSST-QĐ ngày 15/01/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: L2, sinh năm 1977; Tên thường gọi: Liễu S; Nơi thường trú và nơi ở: Số A Ngõ B Tây Q, B T, khu T, Đ, Đài Loan, Trung Quốc; trình độ học vấn: Đại học; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Đài Loan - Trung Quốc; Dân tộc: Hán; Bố: Liao H (Liễu Hiển T), sinh năm 1947; Mẹ: Chen Man (Trần M), sinh năm 1952; Vợ: Lien M (Liên Mai P), sinh năm 1980, đã ly hôn; Nguyễn Thị H (Nguyễn Thị Hồng Y), sinh năm 1975. Có 2 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị bắt truy nã ngày 22/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

*Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Luật sư Nguyễn Thị Nhật L - Công ty L3, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang. Địa chỉ: Số F phố N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt).
  2. Luật sư Hoàng Đức T1 - Văn phòng L4, Đoàn luật sư tỉnh B. (có mặt). Địa chỉ: 0 đường V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

*Người phiên dịch: Bà Trần Thị Hà P1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. ( Có mặt)

*Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn W2

Địa chỉ: Khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

Đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1982. (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Chu Trọng C, sinh năm 1983; Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  2. Anh Dương Văn T2, sinh năm 1987; Địa chỉ: thôn N, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  3. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984; Địa chỉ: tổ dân phố số C, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt).
  4. Bà Chen M1 (Trần M), sinh năm 1952 (Quốc tịch: Đài Loan - Trung Quốc). (có mặt). Địa chỉ: Số H, T, B T, khu T, Đ, Đài Loan, Trung Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty trách nhiệm Hữu Hạn V2 có địa chỉ tại Khu Công nghiệp Q, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang sản xuất màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 530. Khu nhà Q của Công ty V2 gồm có 4 nhà xưởng sản xuất ký hiệu là Q1, Q2, Q3 và Q4, mỗi nhà xưởng đều có các phòng thiết bị, xưởng sản xuất và khu văn phòng - hành chính.

Năm 2015, Liao Chuang W (tên thường gọi là Liễu Sáng V), sinh năm 1977 quốc tịch Đài Loan - Trung Quốc làm Trưởng phòng Xưởng vụ Công ty trách nhiệm hữu hạn W2, có nhiệm vụ quản lý, cung cấp, vận hành, sửa chữa hệ thống điều hoà, khí, điện, nước cho khu nhà Q để sản xuất, gia công màn hình điện thoại di động.

Dưới quyền của L1 Sáng V có 3 công nhân gồm: Chu Trọng C, sinh năm 1983, trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Q; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984, trú tại: Tổ dân phố số C, phường B; Dương Văn T2, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã T (đều thuộc thị xã V, tỉnh Bắc Giang), nhiệm vụ của C, Q và T2 là theo dõi, vận hành các hệ thống, thiết bị tại nhà Xưởng Q1.

Khoảng tháng 4/2015 là thời điểm công ty đã dừng sản xuất và thanh lý hợp đồng lao động với công nhân. Tuy nhiên, bộ phận xưởng vụ do L1 Sáng Vĩ phụ trách vẫn được giữ lại để theo dõi, vận hành, bảo quản hệ thống thiết bị, linh kiện của công ty. Trong thời gian này, L1 Sáng V bảo C và Q đột nhập vào kho xưởng Q1 trộm cắp lô hàng màn hình điện thoại di động N1 530 bị lỗi cho V mang đi bán và dọa nếu không thực hiện sẽ bị đuổi việc nên C và Q đồng ý. Vĩ trực tiếp hướng dẫn C, Quyền cách đột nhập vào kho xưởng, cung cấp mật khẩu cửa phòng đặt hệ thống máy chủ camera an ninh để trộm cắp và bảo rủ T2 cùng tham gia. Sau đó C, Quyền rủ T2 tham gia trộm cắp thì T2 đồng ý. Từ ngày 07/4/2015 đến ngày 20/5/2015, V, C, Q và T2 đã thực hiện 2 vụ trộm cắp, chiếm đoạt 9.548 chiếc màn hình điện thoại di động N1, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/4/2015, lợi dụng lúc nghỉ trưa của nhân viên bảo vệ công ty, C, Q và T2 đi bộ từ phòng làm việc tại nhà Q đến nhà Q1 vào phòng thiết bị và đi cầu thang lên tầng 2, mở cửa ra ngoài đi qua mặt trần bê tông đến đầu hồi xưởng sản xuất Q1, lật tấm tôn chui vào trần gỗ chống nóng rồi đi đến tường đầu hồi đối diện tại vị trí có sẵn lỗ thoáng, kích thước 64 x 28cm tiếp giáp với khu văn phòng xưởng Q1 nơi chứa các màn hình điện thoại. Sau đó, Quyền chui người qua lỗ thoáng, dùng tay tháo 01 tấm trần thạch cao rồi lấy chiếc máng đỡ hệ thống đường dây điện có sẵn trên sàn gỗ dài 3m bằng kim loại làm thang, đút qua lỗ thoáng tường đầu hồi và trần thạch cao xuống tầng 2 khu văn phòng xưởng Q1 rồi Quyền, C, T2 leo xuống. Quyền đi sang phòng đặt hệ thống máy chủ (vi tính) lấy tờ giấy có ghi ký hiệu, mật khẩu mà V đưa cho lúc trước để mở cửa và rút dây rắc cắm camera theo dõi kho chứa màn hình điện thoại ra để tránh bị phát hiện. Sau đó C, Q, T2 xuống tầng 1, tại đây Quyền dựng thang vào tường trèo lên tháo một tấm trần thạch cao của khu vực phòng trà nơi tiếp giáp với cửa phòng đào tạo (nơi được công ty dùng làm kho chứa màn hình điện thoại) sau đó chui lên khoảng trống giữa trần bê tông và trần thạch cao, vươn người qua tường ngăn sang phòng đào tạo, rồi cúi xuống dùng tay tháo một tấm trần thạch cao ra sau đó lấy chiếc chổi cán tre dài 1,35m chọc chốt cửa xoay xuống và bảo C, T2 mở cửa. C đứng dưới cầm tay nắm cánh cửa xoay thì mở được cửa. Quyền đậy lại hai tấm thạch cao rồi cùng C, T2 vào kho trộm cắp toàn bộ 4.053 chiếc màn hình điện thoại di động N1 530 được đóng trong nhiều hộp cát tông xếp trên kệ chứa hàng (palett) số 22 sau đó bê lên tầng 2 để tại phòng lúc trước cả nhóm chui xuống. Sau đó, Quyền quay xuống tầng 1 xoay ngang chốt cửa nhà kho, đi ra ngoài đóng cửa, lên tầng 2 cắm lại dây rắc camera và đóng cửa phòng máy chủ lại như cũ.

Tại văn phòng tầng 2, Quyền, T2, C dựng thang vào góc tường cùng nhau vận chuyển hết số màn hình điện thoại trộm cắp được lên sàn gỗ của xưởng sản xuất Q1. Sau khi chuyển xong, 3 người chui sang sàn gỗ, một người rút thang lên, còn một người đậy tấm trần thạch cao của văn phòng lại như trước. Sau đó, cả bọn cậy bật 1 tấm sàn gỗ lên rồi bê những thùng cát tông đựng màn hình điện thoại xuống giấu trong khoảng trần trống giữa trần bê tông với sàn gỗ chống nóng, khi giấu xong đậy ván gỗ lại rồi chui ra trần sàn gỗ, đi theo đường cũ sang tầng 2 phòng thiết bị, xuống tầng 1 ra ngoài nhà Q1 về phòng làm việc thông báo cho Liễu S Vĩ biết. V bảo C, Quyền, T2 phân loại, chọn những màn hình điện thoại còn chất lượng, không bị bong tróc mối hàn ra để V mang đi bán. Để tránh bị lực lượng bảo vệ công ty kiểm tra, V đưa cho C, Quyền, T2 chiếc ba lô cá nhân của V và túi đựng hồ sơ của công ty thay nhau sang sàn gỗ chống nóng của xưởng sản xuất Q1 lấy màn hình điện thoại mang về phòng làm việc tại nhà xưởng Q4 cho V. Những ngày sau đó, C, Quyền, T2 lấy khoảng 3.000 chiếc mang cho V còn khoảng hơn 1.000 chiếc màn hình điện thoại chất lượng kém hơn, V bảo C và Q tìm cách tiêu hủy thì Q, C không tiêu huỷ mà mang bán cho Trịnh Văn H1- sinh năm 1987 trú tại thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định được số tiền 60 triệu đồng, Q và C chia nhau.

Lần thứ hai:

Sau khi tiêu thụ hết số màn hình điện thoại di động đã trộm cắp, L1 Sáng Vĩ lại bảo C, Quyền, T2 tiếp tục vào kho Q1 trộm cắp màn hình điện thoại. Vẫn với phương thức, thủ đoạn phạm tội như lần thứ nhất, khoảng 18 giờ ngày 20/5/2015, C, Q, T2 đột nhập vào kho Q1 trộm cắp được 5.495 chiếc màn hình điện thoại di động N1 đã được đóng trong những thùng bìa cát tông xếp trên Pallet số 23, cất giấu trên sàn gỗ của xưởng sản xuất Q1 rồi đi về. Những ngày sau đó, C, Quyền, T2 cùng nhau phân loại chất lượng màn hình điện thoại rồi thay nhau mang cho Vĩ tổng số khoảng 3.000 chiếc màn hình, số còn lại kém chất lượng Quyền, C, T2 bán cho H1 được 116.900.000 đồng. T2 cầm tiền chia cho C 40 triệu đồng, số tiền còn lại chưa kịp chia cho Q thì bị phát hiện thu giữ.

Ngày 02/6/2015, Công ty TNHH W2 có đơn trình báo Công an huyện V (thị xã V). Đến ngày 03/6/2015, C, Q, T2 bị khởi tố, bắt tạm giam về tội “Trộm cắp tài sản”, H1 bị khởi tố và bắt tạm giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tại các Bản án sơ thẩm số 51/2017/HSST ngày 09/11/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và Bản án phúc thẩm số 259/2019/HSPT ngày 26/4/2019 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xét xử đối với 04 đối tượng về các tội danh nêu trên. Đến nay C, Q, T2, H1 đã chấp hành xong bản án và trở về làm ăn sinh sống tại địa phương.

Riêng đối với L1 Sáng V1 sau khi biết vụ án bị phát hiện đã bỏ việc, trốn về Đài Loan. Ngày 29/01/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra quyết định khởi tố bị cáo đối với Liễu Sáng V, đến ngày 20/5/2016 ra quyết định truy nã đối với Liễu Sáng V. Ngày 22/6/2024, V bị Cơ quan điều tra bắt khi đang nhập cảnh vào Việt Nam tại sân bay T, thu giữ của Vĩ: 01 hộ chiếu số [...] cấp ngày 18/10/2022 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh đã qua sử dụng. (BL 159, 173-322; 739-759).

* Khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra vụ án tại dãy nhà Q1 của Công ty TNHH W2 thuộc khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Phía Bắc giáp nhà để xe; phía Đông giáp dãy nhà Q1; phía Nam là đường nội bộ trong công ty, tiếp đến nhà dãy nhà R1; phía Tây giáp công ty C2. Xem xét dãy nhà Q1 thấy: Nhà có 3 tầng. Góc phía Tây Nam của tầng 1 là Phòng đào tạo, đây là nơi để các linh kiện màn hình điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Nokia.

Xem xét phòng đào tạo thấy: Phòng có 2 cửa ra vào ở trên tường phía Đông và phía Tây. Cửa ra vào dạng 1 cánh gỗ, mở vào trong, cùng kích thước 1,21 x 2,34 m. Tại vị trí cách đất 1,45 m trên cánh cửa có khoá dạng khoá ở trạng thái đóng thì phía ngoài không mở được cửa, phía trong mở được cửa ra.

Vào trong phòng thấy: Trong phòng có nhiều linh kiện hàng đã được đóng gói, cố định bởi các lớp nilon. Góc nhà phía Đông Bắc có nhiều túi nilon đã được tách rời khỏi các linh kiện hàng. Sát cửa ra vào, tại góc trần phía Đông Nam có 01 Camera, trần nhà được ốp nhựa, chia thành các ô có cùng kích thước 60 x 60cm, phía ngoài phòng, vị trí đối diện với C1, ốp trần tại vị trí này khuyết 01 ốp nhựa, kích thước 60 x 60cm. Chiều cao từ nền tầng 1 đến ốp trần tầng 1 là 2,88m. Phía trên cửa ra vào phòng phía Tây, có 1 chổi cán tre, dài 1,35m, đường kính 3 cm, phần cán tre dài 96 cm. Phía trước cửa phía Đông của phòng là hành lang.

Trên tường phía T của hành lang có nhiều dấu vết giầy dép. Trần nhà tại vị trí này, ốp nhựa bị xô lệch. Tường ngăn cách tầng 1 với sàn tầng 2 tại vị trí này bị đập phá khuyết gạch, kích thước 64 x 28cm. Trên sàn tầng 2, tại vị trí sát chỗ khuyết gạch này có 1 thang kim loại mầu sáng, kích thước 3 x 0,3m. Trên sàn tầng 2, tại vị trí cách chỗ khuyết gạch 30m có nhiều khay đựng màn hình điện thoại và 245 chiếc màn hình điện thoại mầu đen, loại cảm ứng, kích thước 4 inch, nhãn hiệu Nokia. Trên sàn tại vị trí cách vị trí này 12 m về phía Đông có nhiều khay đựng màn hình điện thoại. Sàn nhà tại vị trí này bị khuyết gỗ, phía dưới vị trí khuyết gỗ là hầm. Trền nền hầm có nhiều dấu vết giầy dép. Khu vực phía Bắc và tầng 2 của dãy nhà Q1 là khu làm việc của bộ phận xưởng vụ.

Quá trình khám nghiệm Cơ quan điều tra đã thu giữ 1 chiếc thang kim loại dài 3 m, 1 chiếc chổi cán tre dài 1,35 m và 245 chiếc màn hình điện thoại di động cảm ứng mầu đen nhãn hiệu Nokia, kích thước 4 inch.

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/2017/KL-HĐĐG ngày 29/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Giang kết luận: Màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 530 bị lỗi có giá bình quân 95.000 đồng/1 chiếc. Tổng giá trị của 9.548 chiếc màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 530 là 907.060.000 đồng (BL 50-54).

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu V khai nhận được bàn bạc với C, Quyền T2 lấy trộm màn hình trong kho mang đi bán, V là người mở mật khẩu phòng máy cho C, Quyền, T2 thực hiện hành trộm cắp màn hình điện thoại, những người này cho màn hình điện thoại vào bao lô mang để ở gầm bàn làm việc của V, khi bị phát hiện thì V đã mang số màn hình đã trộm cắp vứt bỏ ở khu vực phế liệu của công ty. Sau đó V thay đổi lời khai V không được bàn bạc với C, Q, T2, chỉ khi những người này trộm cắp mang về đưa cho V thì V mới biết, số lượng trộm cắp khoảng 1.000 chiếc màn hình.

* Về trách nhiệm dân sự:

Công ty W2 đã được C, Quyền, T2 bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nay Công ty W2 không có yêu cầu Liễu Sáng Vĩ bồi thường về dân sự. C, Q và T2 cũng không yêu cầu V hoàn trả số tiền mà ba người này đã bồi thường cho Công ty W2.

Quá trình chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo đã nộp số tiền 100.000.000 đồng để tự nguyện hoàn trả cho C, Q, T2.

Bản cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Liao Chuang Wei (Liễu Sáng Vĩ) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với kết luận của Cơ quan điều tra về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Do thời gian đã lâu bị cáo không nhớ chi tiết nội dung sự việc, nhưng bị cáo là người đã bảo ba bị cáo C, Q, T2 trộm cắp tài sản của công ty, là người cung cấp mã cửa an ninh cho các bị cáo khác. Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi của bản thân. Đề nghị Cơ quan pháp luật Việt Nam cho bị cáo cơ hội, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật Việt Nam. Bị cáo xin lỗi bị hại và đồng ý trả lại cho C, Q, T2 tổng số tiền 100.000.000 đồng mà những người này đã bồi thường thay cho bị cáo.

Đại diện bị hại trình bày: Tài sản công ty bị mất là các màn hình lỗi, loại sản phẩm không bán trên thị trường. Căn cứ theo giá tại Hợp đồng mua bán xuất nhập khẩu, Tờ khai hải quan, biên bản xác định thiệt hại thì giá trị thiệt hại chỉ là 94.890.000 đồng. Toàn bộ thiệt hại đã được 3 bị cáo trước khắc phục trong vụ án. Nay Công ty không có yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Chu Trọng C, anh Nguyễn Văn Q và Dương Văn T2 trình bày: hành vi của các anh đã bị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ra xét xử, nay anh đã chấp hành xong bản án. Về phần trách nhiệm dân sự các anh đã bồi thường xong cho Công ty. Các anh cũng đã bồi thường xong cho cả phần của bị cáo Liao Chuang W. Nay bị cáo Liao Chuang W tự nguyện hoàn trả số tiền bồi thường thiệt hại cho các anh C, Quyền, T2 thì các anh C, Q, T2 đồng ý nhận số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Chen M1 (T) trình bày: bà là mẹ của bị cáo, bị cáo đã tác động bà nộp số tiền 100.000.000 đồng để bồi thường khắc phục hậu quả. Số tiền 100.000.000 đồng là của bị cáo, bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại. Bị cáo là người nước ngoài, hiểu biết pháp luật Việt Nam hạn chế. Bà đề nghị P2 xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm trở về với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

    Điểm a khoản 4 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Khoản 3 Điều 7; điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Liao Chuang W.

    Xử phạt: Bị cáo Liao Chuang W từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

    Ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan buộc bị cáo phải trả lại cho anh Chu Trọng C, Dương Văn T2, Nguyễn Văn Q số tiền 100.000.000 đồng, cụ thể: trả anh C 34.000.000 đồng, trả anh Q 33.000.000 đồng, trả anh T2 33.000.000 đồng. Xác nhận gia đình bị cáo Liao Chuang W đã nộp số tiền 100.000.000 đồng tại Cục thi hành án tỉnh Bắc Giang.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    - Trả lại bị cáo:

    • 01 Hộ chiếu số [...] tên L2 cấp ngày 18/10/2022.
    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh có số seri: G6TDVHF60D56 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì thư.

    Ngoài ra, còn đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo.

* Luật sư Hoàng Đức T1 bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận: Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhất trí với đề nghị của Đại diện viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét áp dụng Nghị quyết 41; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 để áp dụng các tình tiết có lợi cho bị cáo tại Bộ luật hình sự năm 2015. Luật sư đồng tình với đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng chính sách khoan hồng, chính sách ngoại giao của nhà nước áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù.

* Luật sư Nguyễn Thị Nhật L trình bày bài bào chữa cho bị cáo: Về tội danh và điều luật nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo đã ăn năn hối cải, nhận thức rõ hành vi của mình, tác động tới gia đình nộp số tiền 100.000.000đồng để khắc phục hậu quả. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nên đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Đề nghị trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo có cha mẹ tuổi cao, bị cáo có vợ là người Việt Nam nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo đã cơ bản thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.

[2]. Về hành vi của bị cáo theo Cáo trạng truy tố:

Tại phiên toà bị cáo Lia Chuang W1 thừa nhận hành vi bảo những công nhân dưới quyền quản lý đi trộm cắp cũng như cung cấp mật mã cho họ như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều trả, phù hợp với lời khai của Chu Trọng C, Nguyễn Văn Q, Dương Văn T2, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ được trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ xác định:

Từ ngày 07/4/2015 đến ngày 20/5/2015, Liao Chuang W (tức Liễu Sáng V) đã rủ Chu Trọng C, Nguyễn Văn Q, Dương Văn T2 cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn W2 tại Khu Công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang, chiếm đoạt tổng số 9.548 chiếc màn hình điện thoại di động N1 530, tổng trị giá tài sản theo định giá là 907.060.000 đồng (Chín trăm linh bảy triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng). Bị hại là Công ty W3 có ý kiến: Công ty xác định đã mất 9.548 chiếc màn hình điện thoại nhãn hiệu Nokia Lumia 530, đây là loại tài sản Công ty không được phép bán trên thị trường, mức thiệt hại của Công ty theo hồ sơ tài liệu (được chứng minh thông qua Hợp đồng mua bán xuất nhập khẩu, tờ khai hải quan...) khẳng định chỉ thiệt hại 94.890.067 đồng. Do vậy, cần áp dụng theo hướng có lợi cho bị cáo.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam và sẽ bị trừng trị nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo Liao Chuang W đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo phạm tội tại thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999 đang có hiệu lực. Tuy nhiên, Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7 của Bộ H2, đảm bảo nguyên tắc theo hướng có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử đối với bị cáo. Tại phiên toà, Đại diện viện kiểm sát đã thay đổi điều luật truy tố bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ, không oan.

[3]. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • + Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
  • + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, về thiệt hại cho bị hại đã được các bị cáo khác trong vụ án khắc phục toàn bộ bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 100.000.000 đồng để trả lại cho các bị cáo khác, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[5]. Về hình phạt:

[5.1] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng, áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo nhận ra sai phạm của mình, rèn luyện thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn, bản thân là người nước ngoài hiểu biết pháp luật Việt Nam còn hạn chế, thiệt hại của bị hại đã được khắc phục triệt để. Bản án số 259/2019/HS-PT ngày 26/4/2019 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo C, Quyền mỗi bị cáo 42 tháng tù và xử phạt bị cáo T2 36 tháng tù. Xem xét đánh giá tính chất đồng phạm, vai trò của các bị cáo trong vụ án thì cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Liao Chuang W thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam.

Ngoài ra, cần áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH ngày 20/6/2017 của Quốc hội, các tình tiết có lợi cho bị cáo quy định ở Bộ luật hình sự năm 2015 đối với tội Trộm cắp tài sản khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5.2] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định về hình phạt bổ sung, tuy nhiên bị cáo là người nước ngoài, có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo có người thân là người Việt Nam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất đối với bị cáo.

[6]. Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Công ty W2 đã được C, Quyền, T2 bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nay Công ty W2 không có yêu cầu Liễu Sáng Vĩ bồi thường về dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và anh C, anh Q, anh T2 về việc bị cáo trả cho những người liên quan này số tiền 100.000.000 đồng. Cụ thể: trả cho C 34.000.000 đồng, trả cho Q 33.000.000 đồng, trả cho T2 33.000.000 đồng. Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 100.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[8]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Trả lại bị cáo:
    • + 01 Hộ chiếu số [...] tên L2 cấp ngày 18/10/2022.
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh có số seri: G6TDVHF60D56 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì thư.

Các vật chứng khác của vụ án đã được xử lý tại Bản án sơ thẩm số 51/2017/HSST ngày 09/11/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và Bản án phúc thẩm số 259/2019/HSPT ngày 26/4/2019 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt và điều luật áp dụng:
    • - Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
    • - Căn cứ khoản 3 Điều 7; điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Liao Chuang W.

    Xử phạt: Bị cáo Liao Chuang W (Liễu Sáng Vĩ) 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và anh C, anh Q, anh T2 về việc bị cáo trả cho những người liên quan này số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Cụ thể: trả cho C 34.000.000 đồng (ba tư triệu đồng), trả cho Q 33.000.000 đồng (Ba ba triệu đồng), trả cho T2 33.000.000 đồng (Ba ba triệu đồng). Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

  3. Về xử lý vật chứng: Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Trả lại bị cáo:
      • + 01 Hộ chiếu số [...] tên L2 cấp ngày 18/10/2022.
      • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh có số seri: G6TDVHF60D56 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì thư.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 13/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 19/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST- HS ngày 03/01/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/HSST-QĐ ngày 15/01/2025 đối với bị cáo:
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger