|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/DS-ST Ngày: 12 - 02 - 2025 Về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Ly.
- Bà Phạm Xuân Đào.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Liễu, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1352/2024/TLST-DS ngày 06/11/2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1045/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trương Thị Hồng S, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1987; địa chỉ: số B, tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị Thu L, sinh năm 1992; địa chỉ: số B, tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 05/11/2024 và các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Hồng S trình bày: Do quen biết nên vào ngày 24/3/2024 bà S có cho ông Nguyễn Văn A và bà Mai Thị Thu L vay số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng; khi vay ông Nguyễn Văn A có làm biên nhận nợ (giấy tay) thỏa thuận không lãi suất; mục đích vay là để bổ sung nguồn vốn sinh hoạt gia đình, thời hạn vay là 04 tháng.
Do đến hạn thanh toán ông Nguyễn Văn A bà Mai Thị Thu L không thực hiện việc trả nợ cho bà S nhưng ông A ký tên vào biên nhận nợ ngày 24/3/2024; Nên bà Trương Thị Hồng S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn A và bà Mai Thị Thu L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà S số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, bà S không yêu cầu tính lãi suất.
Bị đơn ông Nguyễn Văn A và bà Mai Thị Thu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông A, bà L vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông A, bà L về nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Hồng S.
Tại phiên tòa nguyên đơn rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với trách nhiệm liên đới đối với bà Mai Thị Thu L; bị đơn ông Nguyễn Văn A và bà Mai Thị Thu L vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; các Điều 217, 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Hồng S.
- - Buộc ông Nguyễn Văn A có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Hồng S số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Hồng S đối với bà Mai Thị Thu L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn A và bà Mai Thị Thu L đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng hôm nay ông A, bà L vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông A, bà L là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Bà Trương Thị Hồng S khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Văn A và bà Mai Thị Thu L. Ông A, bà L có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 26, 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy, qua lời khai của đương sự thể hiện bằng biên nhận nợ ngày 24/3/2024. Hội đồng xét xử xác định giữa bà Trương Thị Hồng S và ông Nguyễn Văn A có xác lập hợp đồng vay với tổng số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Do đến hạn thanh toán khoản vay bị đơn ông A, bà L không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên cho bà S nên phát sinh tranh chấp.
Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận được xác lập giữa bà Trương Thị Hồng S và ông Nguyễn Văn A là hoàn toàn tự nguyện không trái với đạo đức xã hội phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự; do đến kỳ hạn trả nợ nhưng ông Nguyễn Văn A không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên cho bà Trương Thị Hồng S là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghỉ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Hồng S.
Ngoài ra, đối với yêu cầu của nguyên đơn về trách nhiệm liên đới của bà Mai Thị Thu L cùng nghĩa vụ trả số tiền trên cho bà Trương Thị Hồng S; Hội đồng xét xử nhận thấy từ khi bà Trương Thị Hồng S và ông Nguyễn Văn A giao dịch làm ăn đối với khoản nợ vào ngày 24/3/2024 thể hiện bằng biên nhận nợ không có chữ ký tên của bà L. Bà S và ông A là 02 chủ thể tự giao dịch vay mượn với nhau không có sự chứng kiến của bà L và trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật thì S không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà L là người ký kết hợp đồng vay số tiền 20.000.000 đồng của bà Trương Thị Hồng S; do đó không Hội đồng xét xử không căn cứ chấp nhận nghĩa vụ liên đới đối với bà Mai Thị Thu L và tại phiên tòa nguyên đơn bà S rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Mai Thị Thu L về trách nhiệm liên đới; Hội đồng xét xử xét thấy việc bà S rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 đình chỉ yêu cầu này của bà Trương Thị Hồng S.
Buộc ông Nguyễn Văn A có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Hồng S số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng; là phù hợp được quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự. Về lãi xuất do bà sương không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ,
- - Các Điều 357, 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự;
- - Các Điều 26, 35, 126, 146, 147, 217, 227, 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Hồng S.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Hồng S về trách nhiệm liên đới với bà Mai Thị Thu L.
- Buộc ông Nguyễn Văn A có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Hồng S số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Về án phí dân sự: Ông Nguyễn Văn A phải chịu án phí 1.000.000 (một triệu) đồng, án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho bà Trương Thị Hồng S, số tiền tạm nộp án phí đã nộp 500.000 (năm trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0023621 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Thanh |
Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 19/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: buoc ong A tra cho bà S 20.000.000 dong
