Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/DS-PT

Ngày 11 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K'Tiêng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Dương Hà Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.

Trong 02 ngày, ngày 14 tháng 01 năm 2024 và ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 128/2024/TLST-HC ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 01 năm 2025; Quyết định tạm ngưng phiên tòa số: 02/2025/QĐPT-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025.

  1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị D và ông Trương Văn C; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Vũ Văn T và bà Nguyễn Thị A; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt
  3. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị A: Bà Nguyễn Thị L; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, Đ, Đắk Nông - Vắng mặt

  4. Người làm chứng: Ông Phương Ngọc D1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV M; địa chỉ: Số A, đường Q, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 25-8-2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
  2. Bà Vũ Thị D và ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A là anh em họ hàng cùng quê. Bà D có cho vợ chồng ông T, bà A vay nhiều lần tiền khi vay có giấy tờ viết tay, thỏa thuận về thời gian trả nợ. Cụ thể bà D cho vay các lần như sau: Ngày 26-11-2014 (âm lịch), vay số tiền 200.000.000đồng; ngày 17-12-2014 (âm lịch), vay số tiền 70.000.000 đồng; ngày 10-5-2015 (âm lịch), vay số tiền 220.000.000đồng; ngày 13-12-2017 (âm lịch) vay 56.000.000đồng; ngày 02-02-2018 (âm lịch) vay 68.360.000đồng; ngày 20-10-2018 (âm lịch), vay số tiền 100.000.000đồng; ngày 05-10-2018 (âm lịch), vay số tiền 118.000.000đồng; ngày 03-11-2018 (âm lịch), vay số tiền 40.000.000đồng; ngày 05-11-2018 (âm lịch), vay số tiền 50.000.000đồng; ngày 09-11-2018 (âm lịch), vay số tiền 100.000.000đồng; ngày 17-12-2018 (âm lịch), vay số tiền 10.000.000đồng. Tổng số tiền vay là 1.042.860.000đồng, ông T, bà A đã trả nhiều lần. Hiện còn nợ số tiền 370.000.000đồng, bà D đã đòi nhiều lần không trả. Ngày 18-12-2020, bà D bán số nợ nêu trên cho Công ty cổ phần M1 nợ tập đoàn T1 để thu hồi nợ. Sau này bà D được biết Công ty cổ phần mua bán nợ tập đoàn T1 không còn hoạt động nên ngày 12-9-2021, bà D và Công ty cổ phần M1 nợ tập đoàn T1 đã thanh lý hợp đồng mua bán đối với số nợ của ông T, bà A. Nay số nợ 370.000.000 đồng mà vợ chồng ông T và bà A không liên quan đến Công ty cổ phần M1 nợ tập đoàn T1. Bà D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T bà A trả số tiền còn nợ 370.000.000 đồng, không có yêu cầu đối với tiền lãi.

    Tại biên bản không tiến hành hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ ngày 14-8-2024, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 370.000.000đồng và không yêu cầu lãi suất. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 210.000.000đồng, rút yêu cầu đối với số tiền 832.860.000đồng và không yêu cầu tính lãi suất.

  3. Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày về việc vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn đã giải quyết xong vì nguyên đơn đã bán khoản nợ của bị đơn cho Công ty M, vì vậy bị đơn chỉ có trách nhiệm trả nợ với Công ty M.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/DS-ST ngày 24-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp quyết định:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 832.860.000 đồng.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    1. Buộc bị đơn ông Vũ Văn T và bà Nguyễn Thị A phải trả cho nguyên đơn bà Vũ Thị D và ông Trương Văn C số tiền 210.000.000 đồng.
    2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22-10-2024, bà Nguyễn Thị A và ông Vũ Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong vụ án này, nguyên đơn biết rõ mình đã 02 lần bán nợ của bị đơn cho Công ty M nhưng vẫn cung cấp tất cả giấy vay tiền bản gốc để khởi kiện bị đơn số tiền 1.042.860.000đồng là thiếu trung thực. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm thiếu sót dẫn tới việc giải quyết vụ án chưa có cơ sở vững chắc, gây bức xúc cho bị đơn. Cụ thể như sau: Không đưa Công ty M vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Bên cạnh đó, tại biên bản thanh lý hợp đồng không xác định cụ thể số tiền bị đơn còn nợ, chưa làm rõ việc bị đơn có được thông báo về việc thanh lý hợp đồng giữa nguyên đơn và Công ty M hay không. Tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán đã lấy lời khai bổ sung với đại diện của Công ty M - ông Phương Ngọc D1 để làm rõ các nội dung liên quan đến quá trình mua bán nợ giữa ba bên và làm rõ được các nội dung về việc hiện nay bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 210.000.000đồng. Bên cạnh đó, bị đơn không có chứng cứ nào về việc đã hoàn thành nghĩa vụ của mình với nguyên đơn. Căn cứ các nội dung chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 210.000.000đồng.

Từ các phân tích trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/DS-ST ngày 24-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp. Đối với các vi phạm, thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm trong giải quyết vụ án cấp phúc thẩm đã sửa chữa, khắc phục được, tuy nhiên kiến nghị Hội đồng xét xử rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. Về nội dung giải quyết và yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa:
    1. Về thủ tục tố tụng:
      1. Ngày 25-8-2023, nguyên đơn bà Vũ Thị D và ông Trương Văn C khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A trả số nợ là 1.042.860.000đồng cho nguyên đơn. Do đó, Toà án nhân dân huyện Đắk R'lấp đã thụ lý giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục và triệu tập bị đơn để tiến hành làm rõ các nội dung trong vụ án. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cấp sơ thẩm đã 04 lần triệu tập ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A đến Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp làm việc tuy nhiên ghi nhận bị đơn không hợp tác và Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp đều tiến hành lập biên bản về việc đương sự không hợp tác theo đúng quy định pháp luật.
      2. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành niêm yết 01 thông báo thụ lý; 01 thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; 01 quyết định đưa vụ án ra xét xử; 01 quyết định hoãn phiên tòa; 03 lần triệu tập bị đơn là ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A (trong đó 02 lần tống đạt cho ông T, bà A có biên bản giao, nhận và 01 lần tiến hành niêm yết). Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, cấp sơ thẩm đã tống đạt và tiến hành thủ tục niêm yết theo đúng quy định pháp luật.
      3. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tiến hành xét xử vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành thủ tục xét hỏi theo đúng quy định tuy nhiên bị đơn ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A và người đại diện theo ủy quyền của bà A là bà Nguyễn Thị L không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Khi chuyển sang phần tranh luận bà A không chấp hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa do đó Hội đồng xét xử đã buộc bà A rời khỏi phòng xét xử, sau khi bà A rời khỏi phiên tòa, ông T, bà L cũng tự ý bỏ về. Vì vậy, phiên tòa ngày 14 tháng 01 năm 2024 đã tạm ngưng.

      Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tiếp tục xét xử vụ án tuy nhiên bị đơn bà A, người đại diện theo ủy quyền là bà L nhận thấy bên nguyên đơn vắng mặt và đã tự ý bỏ về. Phía nguyên đơn bà Vũ Thị D, ông Trương Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt do đó, căn cứ theo Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

    2. Về nội dung:
    3. Căn cứ vào các giấy vay tiền ngày 26-11-2014 (âm lịch), ngày 10-5-2015 (âm lịch), ngày 13-12-2017 (âm lịch), ngày 20-10-2018 (âm lịch), 05-10-2018 (âm lịch), ngày 03-11-2018 (âm lịch), ngày 05-11-2018 (âm lịch), ngày 09-11-2018 (âm lịch), ngày 17-12-2018 (âm lịch) thể hiện bị đơn ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A đã vay nguyên đơn số tiền 1.042.860.000đồng. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Vũ Thị D bán số nợ 370.000.000đồng cho Công ty M. Sau đó, bị đơn đã trả được 160.000.000đồng (trả 02 lần mỗi lần 80.000.000đồng) cho Công ty M. Vì vậy, bị đơn còn nợ 210.000.000 đồng.

      Ngày 12-9-2021, bà D và Công ty cổ phần M1 nợ tập đoàn T1 đã lập biên bản thanh lý Hợp đồng số: 43/2020/HĐ-KN ngày 18-8-2020. Vì vậy, quyền khởi kiện thuộc về bà Vũ Thị D và ông Trương Văn C. Do đó, Bản án sơ thẩm số: 49/2024/DS-ST ngày 24-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 210.000.000đồng là có cơ sở.

      Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn cho rằng đã trả hết nợ cho bà D tuy nhiên không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc đã trả hết nợ. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

    4. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã có vi phạm thiếu sót dẫn đến việc giải quyết vụ án chưa có cơ sở vững chắc, cụ thể như sau:
      1. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Công ty TNHH MTV M và Công ty cổ phần M1 nợ tập đoàn T1 vào tham gia tố tụng, không thu thập đầy đủ chứng cứ, tài liệu đối với việc mua bán nợ giữa bà D với 02 công ty nêu trên. Mặc dù công ty TNHH MTM Mua bán nợ Kim N đã ngưng hoạt động vào ngày 19-10-2020 và bà D đã thanh lý hợp đồng mua bán nợ với CTCP Mua bán nợ Tập đoàn T1 nhưng việc đưa 02 công ty nêu trên là cần thiết để làm rõ nội dung vụ án.
      2. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc từ sau khi lập biên bản ngày 21-12-2020 bị đơn có thanh toán thêm cho CTCP Mua bán nợ Tập đoàn T1 các khoản tiền nào không và khi thanh lý Hợp đồng mua bán nợ số: 43/2020/HĐ-KN vào ngày 12-9-2021 thì giữa nguyên đơn và CTCP Mua bán nợ Tập đoàn T1 chốt số tiền nợ còn lại của bị đơn là bao nhiêu. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản làm việc ngày 10-01-2025 với ông Phương Ngọc D1 là đại diện của Công ty TNHH MTV M, cấp phúc thẩm đã làm rõ được từ khi lập biên bản ngày 21-12-2020 đến khi thanh lý Hợp đồng mua bán nợ số: 43/2020/HĐ-KN thì bị đơn không thanh toán thêm khoản tiền nào và số nợ còn lại của bị đơn là 210.000.000đồng.
      3. Hơn nữa, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ được tại thời điểm thanh lý Hợp đồng số: 43/2020/HĐ-KN ngày 18-8-2020, CTCP mua bán nợ tập đoàn T1 có thông báo cho ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A việc chuyển giao quyền đòi nợ lại cho bà D, ông C hay không. Tuy nhiên, việc thông báo hay không thông báo việc thanh lý Hợp đồng số: 43/2020/HĐ-KN cho ông T, bà A thì bản chất vẫn không thay đổi, thực tế ông T, bà A vẫn còn nợ số tiền 210.000.000đồng. Tại giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử chỉ xem xét nghĩa vụ trả số tiền 210.000.000đồng đối với ai. Căn cứ vào biên bản thanh lý hợp đồng ngày 12-9-2021 và tại biên bản làm việc ngày 10-01-2025 với ông Phương Ngọc D1 là đại diện của công ty TNHH MTV M, Hội đồng xét xử đã làm rõ quyền đòi nợ đối với số tiền 210.000.000đồng đã được chuyển lại cho bà D, ông C. Kể từ ngày thanh lý Hợp đồng số: 43/2020/HĐ-KN, CTCP mua bán nợ tập đoàn T1 không có quyền thực hiện việc đòi nợ ông T, bà A đối với số tiền 210.000.000đồng.

      Trên đây là những vi phạm thiếu sót của cấp sơ thẩm tuy nhiên tại cấp phúc thẩm đã khắc phục được khi tiến hành lấy lời khai bổ sung với đại diện của Công ty TNHH MTV M - ông Phương Ngọc D1 để làm rõ các nội dung liên quan đến việc mua bán nợ giữa ba bên và việc bị đơn còn nợ 210.000.000đồng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

    5. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
    6. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T, bà A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
    7. Về án phí: Ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

    1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị Anh . Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/DS-ST ngày 24-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông.

    Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Tuyên xử:

    1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 832.860.000 đồng.
    2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
      1. Buộc bị đơn ông Vũ Văn T và bà Nguyễn Thị A phải trả cho nguyên đơn bà Vũ Thị D và ông Trương Văn C số tiền 210.000.000 đồng.
      2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
    3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Vũ Văn T, bà Nguyễn Thị A, mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
    4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Nơi nhận:

    • - TANDTC (Vụ I);
    • - VKSND tỉnh Đăk Nông;
    • - Cục THADS tỉnh Đắk Nông;
    • - TAND huyện Đắk R'Lấp;
    • - VKSND huyện Đắk R'Lấp;
    • - Chi cục THADS huyện R'Lấp;
    • - Các đương sự;
    • - Lưu: Tổ HCTP, DS.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    K'Tiêng

    7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 19/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger