|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07 – 02 – 2025
V/v tranh chấp Ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Hiếu.
Ông Trần Hoàng Bảy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Đào-Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2024/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 11 năm 2024, về việc tranh chấp Ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 556/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Quốc Y, sinh năm 1987
- Bị đơn: Bà Đặng Thị G, sinh năm 1997
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện ngày 24/10/2024 và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đỗ Quốc Y trình bày:
Ông và bà Đặng Thị G quen biết nhau, có tình cảm và được gia đình tổ chức đám cưới năm 2017, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 104, cấp ngày 12/6/2017. Trong qúa trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Quốc K, sinh ngày 23/9/2018 và Đỗ Thị Ngọc T, sinh ngày 21/6/2020, hiện nay đều đang sống chung với ông.
Sau khi kết hôn, vợ chồng ông có thời gian dài chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó bà Đặng Thị G bỏ nhà đi nhiều lần mà không nói với ai. Ông có tha thứ và khuyên bảo vợ quay về sống chung, để cùng chăm lo cho con cái, nhưng vào tháng 8/2024, bà G lại tiếp tục bỏ nhà ra đi.
Nhận thấy đời sống hôn nhân giữa của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- -Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Đặng Thị G.
- -Về con chung: Ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn bà Đặng Thị G không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không rõ lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Quốc Y và bà Đặng Thị G tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn của Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 12/6/2017, nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
[3] Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong thời kỳ hôn nhân, ông Y và bà G có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, nên đã sống ly thân từ tháng 8/2024, đến thời điểm này cả ông Y và bà G cũng không có một biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Y đối với bà G.
[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông Y và bà G có 02 người con chung là Đỗ Quốc K, sinh ngày 23/9/2018 và Đỗ Thị Ngọc T, sinh ngày 21/6/2020, hiện đang sống chung với ông Y.
[5] Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, các khoản 1, 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
[6] Xét thấy, hai người con chung này từ nhỏ đã được người cha chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho nên phải giao cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, tránh thay đổi môi trường sống ổn định của trẻ nhỏ. Nếu sau này người cha nuôi dưỡng không tốt thì người mẹ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Y, giao hai cháu Đỗ Quốc K, sinh ngày 23/9/2018 và Đỗ Thị Ngọc T, sinh ngày 21/6/2020, cho ông Y trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục hai người con chung này cho bà G, không ai được ngăn cản.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của ông Y đối với bà G.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Buộc ông Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn, theo như nhận định nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Quốc Y được ly hôn với bà Đặng Thị G.
- Về con chung: Giao cho ông Y được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Đỗ Quốc K, sinh ngày 23/9/2018 và Đỗ Thị Ngọc T, sinh ngày 21/6/2020, đến đủ 18 tuổi; Bà G được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục hai người con chung này, không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của ông Y đối với bà G.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009061, ngày 19/11/2024, của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kế Sách. Như vậy, ông Y đã nộp xong án phí.
- Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vinh Thắng |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
