Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 06-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
  • 2. Ông Lương Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Phước L (tên gọi khác: T), sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Dương; đăng ký thường trú: Tổ D, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; Trình độ văn hóa 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn T1, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961; gia đình bị cáo có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền sự, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 17/9/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Trương Văn N, sinh năm 1990; nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; tạm trú: Số C, đường D, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt do có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Phước L là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. L biết anh Trương Văn N làm nghề chạy xe ô tô dịch vụ, do trước đó L từng thuê xe của anh N.

Chiều tối ngày 16/9/2024, L đang ở nhà tại khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do không có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, L đã nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của anh Trương Văn N.

Thực hiện ý định, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 61E1-977.29 của L đến nhà anh N tại đường D, thuộc khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, giả vờ nói thuê anh N chở đến Bệnh viện H1 ở phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương để đóng tiền viện phí cho người nhà nhưng thực chất L không có người nhà nào nằm viện tại đây. Anh N tin tưởng, đồng ý và báo giá dịch vụ là 500.000 đồng. Lúc này, L nói dối với anh N là L không mang theo tiền mặt và điện thoại nên hỏi mượn anh N số tiền 3.000.000 đồng trước để đến Phòng khám Đ, cạnh đường Đ, thuộc khu phố A, phường H, thành phố B ở gần đó để đóng tiền theo yêu cầu của bệnh viện H1. L giải thích với anh N là do Bệnh viện H1 và Phòng khám Đ có liên kết với nhau nên có thể thanh toán tiền viện phí. Anh N nghi ngờ và không đồng ý thì L nói với anh N điều khiển xe ô tô đi đến nhà mình để xe của anh N ở lại đây rồi đi cùng với L đến phòng khám Đ để đóng tiền thì anh N đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 61E1-977.29 dẫn anh N đi vào đường H E, thuộc khu phố P, phường H, thành phố B khoảng 100m, đến gần một quán cà phê cạnh đường hẻm rồi đứng ngoài chỉ vào một căn nhà và nói dối với anh N đây là nhà của L nhằm để cho anh N tin tưởng và nói anh N đỗ xe ô tô ở đây để đi cùng với L.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển số 61E1-977.29 chở anh N đến Phòng khám Đ. Tại đây, L tiếp tục nói dối mượn tiền của anh N để vào đóng tiền viện phí nên anh N lấy hết số tiền còn lại trong ví là 2.980.000 đồng đưa cho L. Sau đó, một mình L cầm tiền đi vào bên trong phòng khám rồi cất giấu tiền vào túi quần đang mặc. Khoảng 05 phút sau, L đi ra và nói dối với anh N đã đóng xong tiền viện phí rồi điều khiển xe chở anh N đến chỗ đỗ xe ô tô của anh N. Trên đường đi, L điều khiển xe chở anh N chạy lòng vòng qua nhiều hẻm khác nhau. Nghi ngờ hành vi của L nên anh N đã nhắn tin chia sẽ vị trí qua Zalo cho bạn là anh Trần Văn G (sinh năm 1990, nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang) để nhờ đến hỗ trợ. Khi L chở anh N đến vị trí đỗ xe của anh N thì L nói anh N xuống xe đứng chờ để L đi về nhà lấy căn cước công dân nhưng anh N không đồng ý. Lúc này, L dùng tay trái gạt đẩy anh N xuống xe đồng thời tăng ga xe bỏ chạy nhưng bị anh N kéo xe mô tô lại làm L và xe ngã xuống đường. Khi L vừa đứng dậy định bỏ chạy thì anh Trần Văn G vừa điều khiển xe đến nên đã cùng với anh N chạy đến khống chế L lại rồi gọi điện thoại trình báo Công an phường H. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản Cáo trạng 26/CT-VKSBC ngày 07/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Phước L về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Phước L về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 10 đến 12 tháng tù.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
  • + Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ quy định các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu sung quỹ nhà nước xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 61E1-977.29 của Trần Phước L.
  • - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố B, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Tại phiên toà, bị cáo Trần Phước L đã khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 16/9/2024, tại khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Trần Phước L đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, nói dối với anh Trương Văn N cho mượn số tiền 2.980.000 đồng để thanh toán tiền viện phí cho người thân nhưng thực chất là để chiếm đoạt tiền của anh N nhằm tiêu xài cá nhân. Anh N tin tưởng nên đã đưa cho L số tiền 2.980.000 đồng. Khi bị anh N phát hiện, L đã điều khiển xe tăng ga bỏ chạy nhưng đã bị anh N và anh Trần Văn G khống chế bắt giữ cùng tang vật.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là số tiền 2.980.000đồng. Bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng mô tả. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Bản Cáo trạng số 26/CT-VKSBC ngày 07/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức tham lam, liều lĩnh và xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả xảy ra.

Ngoài ra, bị cáo là người nghiện ma tuý, nguyên nhân động cơ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là để có tiền mua ma tuý sử dụng, tiêu xài cá nhân. Khi bị bị hại phát hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã gạt đẩy bị hại xuống xe đồng thời tăng ga xe bỏ chạy, mặc dù bị hại không bị ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ nhưng đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt gồm: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó bị cáo hưởng thêm tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

[6] Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 10/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả số tiền 2.980.000 đồng cho anh Trương Văn N, anh N đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án là xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 61E1-977.29 đứng tên Trần Phước L, được bị cáo L sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tuyên tịch thu quỹ nhà nước.

[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý: Ngày 24/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Trần Phước L về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phước L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Xử phạt bị cáo Trần Phước L 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/9/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên:

  • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 61E1-977.29.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát và Công an thành phố B ngày 07/01/2025).

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Phước L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án (06/02/2025).

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - CA thành phố Bến Cát;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đậu Thị Thảo

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 06/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger