TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/DS-ST;
Ngày: 06 - 02 - 2025.
Về việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân;
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Hoa;
Bà Lê Thị Hương;
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông: không tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 273/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Địa chỉ: số B - B, N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T – chức vụ Trưởng Phòng G, thuộc chi nhánh T1 (theo Quyết định ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023);
Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Võ Thị Thanh N – sinh năm 1985, chức vụ Phó Phòng G (theo Giấy ủy quyền ngày 31/10/2024);
Địa chỉ: C, V, phường A, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;
Bị đơn: Anh Bùi Minh H – sinh năm 1997;
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, Tỉnh Tiền Giang;
- 2 -
(Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Võ Thị Thanh N trình bày:
Anh Bùi Minh H có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Phòng G thuộc Chi nhánh T1 (gọi tắt là Ngân hàng) theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3035471 ngày 22/11/2023. Căn cứ thu nhập của anh H, Ngân hàng đã đồng ý cấp cho anh H thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 33,2%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, đến ngày 22/12/2023 anh H đã sử dụng hết 30.000.000 đồng trong thẻ, tiền lãi là 7.500.942 đồng, tiền phí là 2.013.488 đồng; anh H đã thanh toán cho Ngân hàng 5.860.000 đồng, còn nợ lại 33.654.430 đồng thì ngưng chuyển sang lãi quá hạn. Tính đến ngày 31/10/2024, anh H còn nợ Ngân hàng gồm số dư nợ quá hạn 33.654.430 đồng, lãi quá hạn là 3.258.080 đồng, tổng cộng là 36.912.510 đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh H hoàn trả khoản nợ 36.912.510 đồng làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng từ ngày Tòa xét xử đến ngày anh H trả hết nợ.
Bị đơn anh Bùi Minh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về nội dung vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn bà Võ Thị Thanh N có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có gửi bản tóm tắt sao kê số nợ của anh Bùi Minh H đến ngày 06/02/2025, trong đó thể hiện ngày 22/12/2024 anh H có trả cho Ngân hàng được 3.000.000 đồng, nay Ngân hàng yêu cầu anh H trả số tiền vốn, phí quá hạn còn lại là 30.654.430 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 06/02/2025 là 7.514.705 đồng, tổng cộng vốn, phí và lãi tính đến ngày 06/02/2025 là 38.169.135 đồng, yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu sau ngày 06/02/2025 anh H còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi chậm trả phát sinh theo hợp đồng đã ký kết.
- Bị đơn anh Bùi Minh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua xem xét lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Bùi Minh H trả số tiền vốn, tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và được xem xét giải quyết theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự cùng các quy định pháp luật khác có liên quan. Bị đơn cư trú tại xã P, huyện T, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.
Về tố tụng: Người đại diện của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa dân sự sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt đối với người đại diện của nguyên đơn và bị đơn.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hợp đồng mở thẻ tín dụng là Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3035471 ngày 22/11/2023 do nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận ký kết bởi những người có thẩm quyền, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện khi giao kết hợp đồng, hình thức và nội dung hợp đồng không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Nên xác định hợp đồng tín dụng này hợp pháp, là căn cứ pháp lý để các bên phải thực hiện trách nhiệm theo cam kết.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng anh H đã sử dụng 30.000.000 đồng trong thẻ, tiền lãi là 7.500.942 đồng, tiền phí là 2.013.488 đồng; anh H đã thanh toán cho Ngân hàng 5.860.000 đồng, còn nợ lại 33.654.430 đồng chuyển sang nợ quá hạn, đến ngày 22/12/2024 anh H trả tiếp 3.000.000 đồng thì ngưng luôn đến nay là vi phạm thỏa thuận tại Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 23 và Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng. Tính đến ngày xét xử 06/02/2025, dư nợ quá hạn là 30.654.430 đồng, lãi quá hạn là 7.514.705 đồng, tổng cộng là 38.169.135 đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh H trả hết số nợ 38.169.135 đồng khi án có hiệu lực pháp luật, đồng thời yêu cầu anh H tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn từ sau ngày xét xử 06/02/2025 đến khi hết nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 3035471 ngày 22/11/2023 là phù hợp quy định tại Điều 100, Điều 103, Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ; nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Căn cứ Điều 100, Điều 103, Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024. Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc anh Bùi Minh H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền vốn, phí và lãi tính đến ngày 06/02/2025 là 38.169.135 đồng (ba mươi tám triệu, một trăm sáu mươi chín nghìn, một trăm ba mươi lăm đồng), trong đó dư nợ quá hạn 30.654.430 đồng, lãi quá hạn 7.514.705 đồng. Thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 07/02/2025 cho đến khi thi hành án xong, anh Bùi Minh H còn phải tiếp tục trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3035471 ngày 22/11/2023. Trường hợp có điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay; thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Bùi Minh H phải chịu 1.908.400 đồng (một triệu, chín trăm lẻ tám nghìn, bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 922.000 đồng (chín trăm hai mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001929 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Minh Quân |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tiền Giang;
- - VKSND huyện Tân Phú Đông;
- - Chi cục THADS huyện Tân Phú Đông;
- - Các đương sự;
- - Lưu: hồ sơ, án văn.
Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 19/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
