Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 24/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Th

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh T;

Ông Phan Minh T.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy D - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy D – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 15/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 15/01/2025 đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn H, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã T D, huyện L T, tỉnh V P; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Th (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Lê Huỳnh B L; con: 01 con sinh năm 2022.Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/08/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.

  2. Phạm Hồng N, sinh năm 1998; Hộ khẩu thường trú: TDP T, phường H, Thành phố V, tỉnh V; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1976; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ; con: chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.

  3. Nguyễn Văn Ng, sinh năm 2001; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện T D, tỉnh P; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và con bà Trần Thị T Ng sinh năm 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ; con: chưa có.

    Tiền án; tiền sự: 01 tiền án.

    - Ngày 30/09/2021, Tòa án nhân dân tỉnh V xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 2 năm 6 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 BLHS. (ngày 15/01/2024 hết thời hạn thử thách, chưa được xóa án tích). Phạm tội lần này là tái phạm.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.

  4. Nguyễn Quang T, sinh năm 2001; Hộ khẩu thường trú: Phố H, phường H, thành phố V, tỉnh V; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Th (đã chết) và con bà Lê Thị Th, sinh năm 1977; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Xừng Xé Pứ, sinh năm 2003; con: có 01 con, sinh năm 2023.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2024. Hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 15/11/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

  5. Nguyễn Đức T, sinh năm 2001; Hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã Q, huyện L, tỉnh V P; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Huy Hoàng, sinh năm 1965 và con bà Đỗ Thị Kim Thoa, sinh năm 1970. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.

  6. Nguyễn Đại P, sinh năm 1998; Hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh V; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và con bà Lăng Thị L, sinh năm 1979; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.

  7. Nguyễn Quang H, sinh ngày 08/7/2007 (Thực hiện hành vi ngày 06/8/2024 khi 17 tuổi 28 ngày); Hộ khẩu thường trú: Xã H, huyện T, tỉnh V; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trọng T (đã chết); Con bà: Phùng Thị H, sinh năm 1974. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có;

    Tiền án; tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2024. Hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 05/10/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

  • • Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Quang H: Bà Phùng Thị Hiền, sinh năm 1974. Nơi thường trú: Thôn Lê Lợi, xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc – là mẹ đẻ bị cáo Huy (Có mặt).

  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang H: Bà Nguyễn Thị Nga – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội (Có mặt).

  • - Bị hại:

    • + Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1978. Nơi thường trú: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh V. Nơi ở hiện nay: Số 3 ngõ 61 đường N, phường C, quận N, H (Vắng mặt).

    • + Ông Đào Huy H, sinh năm 1978. Nơi thường trú: Thôn B, xã C, huyện T, H. Nơi ở hiện nay: Số 473, thôn M, xã B, huyện T, H (Vắng mặt).

    • + Anh Lê Văn Kh, sinh năm 1990. Nơi thường trú: TDP số 2, thị trấn H, huyện P, tỉnh T (Vắng mặt).

    • + Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1980. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện Ti, tỉnh B (Vắng mặt).

    • + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1979. Nơi thường trú: Thôn Há, xã H, huyện Q, tỉnh B (Vắng mặt).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng thương mại M . Địa chỉ: 124 T, phường Y, quận H, Hội (Vắng mặt).

    • + Công ty TNHH K. Địa chỉ: LK 556 DV12 khu dịch vụ Đ, M, phường K, quận H, H(Vắng mặt).

    • + Chị Đặng Thị L, sinh năm 1988. Nơi ở hiện nay: P423-D17 Tổ 5, KĐT Đ, huyện G, H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Nam Từ Liêm tiếp nhận đơn tố giác của anh Lê Văn Đ, sinh năm 1978; HKTT: Thôn Bắc Trại, xã Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về việc bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 37.500.000VNĐ vào ngày 01/7/2024. Cụ thể như sau:

Vào ngày 01/7/2024, anh Đồng đặt mua 05 bộ điều hòa, công suất 12000BTU với giá 7.500.000VNĐ/bộ của người dùng tài khoản mạng xã hội Zalo “Đl Hoàng Vương” được đăng ký bằng số điện thoại 0853.246.xxx. Chiều cùng ngày, “Đl Hoàng Vương” thông báo có người đang chở điều hòa đến nhà anh Đồng ở số 3 ngõ 61 Nguyễn Văn Giáp, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội, yêu cầu anh Đồng ra nhận, kiểm tra và thanh toán tiền. Sau khi kiểm tra đầy đủ, đúng chủng loại máy điều hòa cần mua, “Đl Hoàng Vương” yêu cầu anh Đồng chuyển thanh toán tiền vào tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB. Ngay sau khi nhận chuyển trả thanh toán tiền, anh Đồng đã bị “Đl Hoàng Vương” chặn liên lạc. Người vận chuyển điều hòa cũng thông báo là chưa nhận được tiền, bộ điều hòa là tài sản của công ty TNHH Đầu tư xây dựng thương mại Minh Phương được mang đến bán cho người cũng sử dụng tài khoản “Đl Hoàng Vương”, phát hiện bị lừa đảo nên anh Đồng đã trình báo Cơ quan Công an. Ngay sau khi tiếp nhận đơn tố giác, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh giải quyết, xác định người liên quan là Trần Văn H hiện đang ở tại P2614 chung cư Mường Thanh Viễn Triều, phường Vĩnh Phước, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Hải để làm rõ nội dung tố giác, tại thời điểm triệu tập phát hiện nơi ở Hải còn có Phạm Hồng N, Nguyễn Đại P, Nguyễn Quang T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu Thuận, Phùng Văn Thắng, sinh năm 1998; HKTT: Phố An Phú, phường Hội Hợp, TP Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc), Nguyễn Minh Hiếu, sinh năm 2008; HKTT: Ngõ 7 Phố Lê Hiến, xã Hội Hợp, huyện Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc) có biểu hiện nghi vấn thực hiện hành vi lừa đảo nên đã tiến hành triệu tập để làm rõ.

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Đại P, Nguyễn Quang T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu Thuận đã khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài tiền của anh Lê Văn Đ và cùng nhau thực hiện nhiều vụ lừ đảo khác. Ngày 10/08/2024, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Đại P, Nguyễn Quang T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu Thuận về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 BLHS.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại Iphone Xs màu đen, Imei 356165092437624, gắn sim số 0858398438 thu giữ của Nguyễn Văn Ng.
  • - 01 điện thoại Iphone 6s, màu bạc, Imei 355694071894100, gắn sim số 0796342943 thu giữ của Nguyễn Quang H.
  • - 01 điện thoại Iphone 6s, màu vàng, Imei 356647080083148, gắn sim số 0366751876 thu giữ của Nguyễn Quang T.
  • - 01 điện thoại Iphone Xr màu trắng, Imei 357379096125940, gắn sim 0783156739 thu giữ của Trần Văn H.
  • - 01 điện thoại Iphone 7 Plus, màu vàng, Imei 356697085914359, gắn sim số 0853246389 thu giữ của Phạm Hồng N.
  • - 05 bộ điều hòa 2 chiều Inverter nhãn hiệu Daikin, công suất 12000BTU, mới 100%.

Quá trình điều tra xác định như sau:

Từ tháng 6/2024, Trần Văn H sinh sống, làm nghề tự do tại khu vực TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Từ các thông tin tuyên truyền phòng chống lừa đảo trên các phương tiện thông tin đại chúng về các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Hải nắm được thủ đoạn các đối tượng đã sử dụng để lừa đảo người bị hại, do công việc hiện tại có thu nhập thấp, không ổn định nên nảy sinh ý định sẽ học theo các thủ đoạn đã được biết để lừa đảo người khác nhằm chiếm đoạt tài sản lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hải rủ Phạm Hồng N, Nguyễn Đại P, Nguyễn Quang T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu Thuận cùng tham gia. Sau đó Hải lên kế hoạch, mua các điện thoại để làm phương tiện thực hiện hành vi lừa đảo dưới hai hình thức là bán phần mềm giả mạo có chức năng theo dõi điện thoại từ xa và lừa đảo người mua và người bán các mặt hàng ( gọi là “lừa chập”).

* Đối với hình thức “Lừa chập”:

Hải tìm mua trên mạng xã hội được một tài khoản ngân hàng số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB, tạo tài khoản Zalo trùng tên với tài khoản ngân hàng là “Đ1 Hoàng Vương”. Tìm kiếm trên hội nhóm của mạng xã hội Facebook những người đang có bài viết đăng tải nhu cầu cần mua (hoặc bán) các loại hàng hóa (Chủ yếu là các mặt hàng điện lạnh, điện dân dụng), sau đó lại tiếp tục tìm kiếm những người đang cần bán (hoặc mua) các mặt hàng tương ứng ở địa điểm gần nhau có thể nhận vận chuyển hàng. Tiếp theo, sử dụng tài khoản Zalo “Đl Hoàng Vương” đóng vai trò cả người mua và người bán, liên hệ với những người này để mua (hoặc bán) cùng số lượng về một mặt hàng. Khi đã dẫn dắt các bên gặp nhau để giao nhận hàng, bị cáo đều nói lý do đang có việc bận, không thể đến giao dịch nên nhờ người quen giao hàng (hoặc nhận hàng), liên tục thúc giục người mua kiểm tra hàng xong thì chuyển tiền vào tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB. Sau khi nhận tiền liền chặn liên lạc cả hai bên. Hải giao cho Ngọc sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus, màu vàng, Imei 356697085914359, gắn nhiều sim số rác không chính chủ, đăng ký và quản lý tài khoản Zalo “ĐL Hoàng Vương” hoặc đổi tên thành “Hoàng Vương”. Trực tiếp thực hiện các công đoạn trong quá trình lừa. Khi người bán hàng yêu cầu chuyển tiền cọc mới vận chuyển hàng đến điểm Ngọc đã hẹn người mua, Ngọc phải thông báo cho Hải biết để quyết định có chuyển tiền không, nếu đồng ý, Hải sẽ sử dụng tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB để chuyển tiền cọc, thông báo lại cho Ngọc biết. Sau khi nhận được tiền, Hải cũng báo lại cho Ngọc biết để chặn liên lạc với người mua. Thỏa thuận, Ngọc và Hải mỗi người hưởng lợi 50% số tiền chiếm đoạt. Từ tháng 06/2024 đến tháng 07/2024, Trần Văn H, Phạm Hồng N đã thực hiện 03 vụ “lừa chập” trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, Thanh Oai, Hà Nội, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 14/6/2024, Ngọc sử dụng mạng xã hội Facebook, đăng tài bài viết bán thanh lý điều hòa, sau đó anh Đào Huy Hoài đã liên lạc thì Ngọc giới thiệu tên là “Tú” tiếp theo Ngọc sử dụng Zalo “Hoàng Vương” liên lạc trao đổi với anh Hoài, thống nhất số lượng điều hòa mua/bán là 03 bộ điều hòa nhãn hiệu Daikin 02 chiều, công suất 12000BTU, mới 100%, giá bán là 7.100.000VNĐ/bộ, tổng tiền cần thanh toán là 21.300.000VNĐ, địa chỉ giao hàng là cửa hàng của anh Hoài tại số 473 thôn Mùi, xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội. Tiếp theo, qua mạng xã hội Facebook, Ngọc tìm kiếm được bài đăng bán điều hòa của tài khoản “Trung.kỹ sư điện máy” người dùng là anh Nguyễn Văn Trung (SN 1989; HKTT: Số 177 tổ 4, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, TP Hà Nội) nhân viên bán hàng của Công ty TNHH Kỹ sư điện máy, Ngọc xưng tên là “Tú”, sử dụng số điện thoại 0858.390.xxx liên lạc với anh Trung đặt mua 03 bộ điều hòa nhãn hiệu Daikin 02 chiều, công suất 12000BTU, mới 100%, giá bán là 10.150.000VNĐ/bộ địa chỉ giao hàng tại nhà anh Hoài số 473 thôn Mùi, xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội, thanh toán sau khi kiểm tra hàng. Đến 17h00 cùng ngày, anh Trung làm thủ tục xuất kho, giao 03 bộ điều hòa cho nhân viên giao hàng là anh Chu Văn Kiên (SN 1997; HKTT: Xóm 1, thôn Vật Phụ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, TP Hà Nội), cung cấp địa chỉ giao hàng và số điện thoại của “Tú” (Ngọc) cho anh Kiên liên lạc. Sau đó, anh Kiên đi giao hàng cùng anh Đỗ Duy Đức Anh (SN 2002; HKTT: Đội 5, thôn Trát Cầu, xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, TP Hà Nội), khi đến nơi, anh Kiên liên lạc với Ngọc thì Ngọc báo bận không trực tiếp nhận hàng, cung cấp số điện thoại của anh Hoài cho Kiên, hướng dẫn anh Kiên giao hàng cho anh Hoài và Ngọc sẽ thanh toán tiền cho công ty. Khi anh Hoài gặp được anh Kiên và anh Đức Anh thì nghe anh Kiên nói giao hàng theo đơn đặt hàng của anh Tú, cùng với kiểm tra hàng đúng theo thỏa thuận nên anh Hoài tin tưởng nên đồng ý thanh toán tiền, do tay bị dính mồ hôi nên anh Hoài nhờ anh Đức Anh thực hiện thao tác chuyển tiền cho “Tú” (tức Ngọc) vào tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB như Ngọc đã cung cấp trước đó, trước khi chuyển có đưa cho anh Đức Anh xem thông tin tài khoản để kiểm tra lại tuy nhiên do anh Đức Anh nghĩ “Tú” là bên bán hàng thứ hai của công ty nên xác nhận với anh Hoài tài khoản trên đúng là tài khoản cần thanh toán, đồng thời thực hiện chuyển thành công số tiền 21.300.000VNĐ từ tài khoản anh Hoài số 0978324622 mang tên DAO HUY HOAI tại ngân hàng MB đến tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB. Anh Kiên kiểm tra lại thì được xác nhận là Công ty chưa nhận được tiền thanh toán, sau đó cả anh Kiên và anh Hoài đều liên lạc với “Tú” (Tức Ngọc) thì không được do đã bị Ngọc chặn liên lạc. Số tiền chiếm đoạt được, Ngọc và Hải chia nhau bằng tiền mặt hưởng lợi mỗi người là 10.650.000VNĐ.

Ngày 01/11/2024, Cơ quan CSĐT - CAH Thanh Oai, CATP Hà Nội đã ra Quyết định xử lý tài sản, tiến hành trao trả 03 bộ điều hòa nhãn hiệu Daikin, công suất 12000BTU, mới 100% cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty TNHH Kỹ sư điện máy. Đại diện công ty TNHH kỹ sư điện máy đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Ngày 01/11/2024, xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đủ căn cứ xác định Trần Văn H và Phạm Hồng N đã thực hiện hành vi lừa đảo trên, Cơ quan CSĐT – CAH Thanh Oai, CATP Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra ngày 14/6/2024 tại thôn Mùi, xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội, cùng ngày ra Quyết định khởi tố bị cáo đối với Trần Văn H và Phạm Hồng N về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Ngày 05/11/2024, Cơ quan CSĐT – CAQ Nam Từ Liêm tiếp nhận hồ sơ vụ án trên theo Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền số 08 ngày 04/11/2024 của VKSND tỉnh Thái Nguyên.

Vụ thứ 2: Ngày 29/6/2024, Ngọc tìm kiếm thông tin trên mạng xã hội Facebook, được biết anh Lê Văn Đ đăng tải bài viết cần mua điều hòa. Ngọc sử dụng số điện thoại 0853.246.xxx gọi điện thoại đến số 0865.077.xxx của anh Đồng gắn trên bài viết, xưng tên là “Vương” rao bán 05 bộ điều hòa 9000PTU và 10 bộ 12000PTU với giá 7.500.000VNĐ/01 bộ 12.000PTU, 5.500.000/01 bộ 9000PTU, tiếp theo sử dụng tài khoản Zalo “Đl Hoàng Vương” để liên lạc, trao đổi việc mua bán với anh Đồng. Ngày 30/6/2024, Ngọc báo với anh Đồng chỉ còn 5 bộ 12000PTU, giá bán là 7.500.000VNĐ/01 bộ. Khi thấy anh Đồng vẫn đồng ý mua, Ngọc lúc này tìm kiếm trên mạng xã hội người có đăng bài viết bán điều hòa tương ứng, có thể đồng ý vận chuyển đến nhà của anh Đồng. Ngày 01/7/2024, Ngọc tìm được bài đăng quảng cáo bán điều hòa của chị Hoàng Thị Quỳnh Anh (SN 1995; HKTT: Yên Thọ, Ý Yên, Nam Định) là nhân viên kinh doanh của công ty TNHH Đầu tư xây dựng thương mại Minh Phương, Ngọc vẫn sử dụng số điện thoại 0853.246.xxx, xưng tên là “Vương” liên hệ với chị Phương đặt mua 5 bộ điều hòa 12000PTU, thỏa thuận giá bán là 12.760.000VNĐ/bộ. Ngọc hướng dẫn chị Quỳnh Anh chuyển điều hòa đến nhà anh Đồng tại số 17 ngõ 61 đường Nguyễn Văn Giáp, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Tiếp theo, chị Quỳnh Anh liên hệ đặt mua 5 bộ điều hòa 12000PTU với bên cung cấp điều hòa tiếp theo là Công ty CP thương mại và sản xuất Hợp Phát. Tiếp theo, anh Hoàng Thanh Tú (SN 1984; HKTT: Xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định) là thủ kho của Công ty Hợp Phát đã làm thủ tục xuất kho, giao các bộ điều hòa cho nhân viên giao hàng là anh Nguyễn Văn Thiệm (SN 1968; HKTT: Xóm 6, Nghĩa Xá, Xuân Ninh, Xuân Trường, Nam Định) vận chuyển đến điểm hẹn.

Khoảng 17h30 cùng ngày, Ngọc thông báo cho anh Đồng biết điều hòa đang được chuyển đến, yêu cầu anh Đồng sau khi kiểm tra xong phải chuyển tiền vào tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB. Khi anh Thiệm gần đến điểm giao hàng, gọi điện cho Ngọc, thì Ngọc liền nói bận không đến nhận sẽ có anh trai ra nhận hộ, đồng thời Ngọc thông báo cho anh Đồng biết là hàng đã giao đến, cũng nói với anh Đồng là bận không đến được. Khi anh Đồng nhận được hàng, Ngọc liên tục đồng thời liên lạc với anh Đồng thúc giục chuyển tiền và kéo dài thời gian chuyển tiền cho chị Quỳnh Anh. Tiếp theo, anh Đồng đã nhờ cháu gái là chị Trịnh Thị Nhân dùng tài khoản ngân hàng MBBank số 0982486066 chuyển thanh toán 37.500.000VNĐ vào tài khoản 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB cho Ngọc. Ngay sau khi Hải thông báo đã nhận tiền, Ngọc liền chặn liên lạc. Sau đó, Ngọc được Hải chia cho số tiền hưởng lợi là 18.000.000VNĐ.

Cơ quan CSĐT – CAQ Nam Từ Liêm đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 05 bộ điều hòa 2 chiều Inverter nhãn hiệu Daikin, công suất 12000BTU, mới 100%, kết luận tổng trị giá tài sản là 63.800.000VNĐ. Ngày 16/9/2024, Cơ quan CSĐT – CAQ Nam Từ Liêm đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 05 bộ điều hòa cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty CP Thương mại và Sản xuất Hợp Phát. Đại diện theo pháp luật của công ty CP thương mại và sản xuất Hợp Pháp đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Vụ thứ ba: Ngày 05/7/2024, Ngọc tìm kiếm trên hội nhóm “ĐIỆN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI (SOLAR VIỆT NAM) của mạng xã hội Facebook thấy có tài khoản “Gia Hưng Light” do anh Lê Văn Khương (SN 1990, HKTT: TDP số 2, Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) sử dụng đang đăng tải bài viết cần mua 12 tấm pin năng lượng mặt trời, có để thông tin số điện thoại liên hệ là 0354.073.xxx. Ngọc sử dụng số điện thoại 0853.246.xxx liên lạc với anh Khương, giới thiệu tên Vương là người lắp đặt công trình, có 10 tấm pin nhãn hiệu LONGI 445M cần thanh lý. Tiếp theo, Ngọc dùng tài khoản zalo “Đl Hoàng Vương” trao đổi, thống nhất với anh Khương số lượng cần bán là 10 tấm pin, giá 900.000VNĐ/tấm, phí vận chuyển là 300.000VNĐ, địa điểm giao nhận hàng tại nhà của anh Khương địa chỉ TDP 2, TT Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời lúc này, Ngọc cũng tìm kiếm trên mạng xã hội người có kinh doanh bán tấm pin năng lượng mặt trời đúng với nhu cầu của anh Khương và có thể giao hàng đến địa điểm anh Khương đã hẹn. Đến tối cùng ngày, Ngọc liên lạc được với chị Đặng Thị Lan Anh (SN 1988; HKTT: TDP 5 KĐT Đặng Xá, xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội), cũng giới thiệu tên là Vương, là người đang xây dựng công trình cần mua 10 tấm pin năng lượng mặt trời để lắp đặt tại công trình ở TT Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 06/7/2024. Sau đó, Ngọc dùng tài khoản Zalo “Đl Hoàng Vương” tiếp tục trao đổi với chị Lan Anh thống nhất giá mua bán là 1.475.000VNĐ/tấm, tổng tiền cho 10 tấm pin là 14.475.000VNĐ, cước phí vận chuyển là 650.000VNĐ. Sau khi đã thỏa thuận xong với Ngọc, chị Lan Anh đã thuê anh Cao Đăng Vang (SN 1993; HKTT: Thôn Đông Chiểu, xã Liên Phương, TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên) là người vận chuyển hàng. Tiếp theo, anh Khương liên lạc với Ngọc để đặt mua thêm 03 tấm pin, giá không thay đổi, Ngọc liền liên lạc với chị Lan Anh đặt mua thêm 03 tấm pin, chị Lan Anh thông báo lại cho anh Vang biết số lượng hàng cần chuyển là 13 tấm pin. Tuy nhiên, khi thấy thông số của 03 tấm pin đặt thêm không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì anh Khương báo lại cho Ngọc biết là không nhận hàng mà vẫn đặt mua 10 tấm pin ban đầu, Ngọc không báo thay đổi số lượng hàng cần mua chị Lan Anh biết. Khoảng 07h45 ngày 06/7/2024, anh Vang sử dụng xe tải vận chuyển 13 tấm pin, được chị Lan Anh cung cấp số điện thoại 0853.246.xxx của Ngọc để liên lạc, rồi được Ngọc hướng dẫn di chuyển về TT Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên để giao hàng. Đồng thời lúc này, Ngọc báo với anh Khương là có xe đang vận chuyển pin cho anh Khương, số lượng là 13 tấm pin với lý do là vợ của Ngọc không biết việc anh Khương không lấy 03 tấm pin nên vẫn chuyển đủ 13 tấm pin, anh Khương đồn ý mua hết số pin này. Khi anh Vang đến địa phận TT Hương Sơn, thì liên lạc với Ngọc để được hướng dẫn chính xác vị trí giao nhận hàng thì Ngọc lấy lý do đang không có nhà, sẽ có người thân ra nhận hàng giúp rồi cung cấp số điện thoại của anh Khương cho anh Vang liên lạc, dặn anh Vang không cung cấp tên Ngọc (Vương) là người mua hàng, không tiết lộ nguồn cung cấp hàng là chị Lan Anh. Sau đó, anh Vương và anh Khương gặp nhau để giao hàng, lúc này Ngọc liên tục gọi điện cho anh Khương thúc giục anh Khương kiểm tra và nhanh chóng thanh toán tiền vào tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB, cùng lúc đó cũng gọi điện cho anh Vang thúc giục anh Vang nói anh Khương chuyển tiền. Sau khi trao đổi thống nhất anh Khương và Ngọc chốt số tiền hàng là 11.500.000VNĐ, khoảng 10h14' cùng ngày, vợ anh Khương là chị Nguyễn Thị Kim Ngân (SN 1989) sử dụng tài khoản số [...] mang tên NGUYEN THI KIM NGAN chuyển số tiền 11.500.000VNĐ vào tài khoản 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB. Sau khi nhận được tiền, Ngọc liền chặn liên lạc giữa các bên, khi đó anh Vang kiểm tra lại với chị Lan Anh thì phát hiện số tiền hàng cần phải thanh toán 19.175.000VNĐ, nhận thấy các thông tin người mua hàng và người bán hàng đều trùng với thông tin Ngọc cung cấp thì mới phát hiện đã bị Ngọc lừa đảo chiếm đoạt tiền. Số tiền chiếm đoạt được, Hải không chia cho Ngọc theo thuận mà giữ lại tiêu sài cá nhân và chi phí sinh hoạt chung.

Tại Kết luận định giá số 44/KL-HĐ ĐGTS ngày 09/08/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự UBND huyện Phú Bình, Thái Nguyên thể hiện: “13 tấm pin năng lượng mặt trời đơn tinh thể mono Longi-445wpm, thương hiệu Longi Solar trị giá: 18.200.000 đồng” (Bút lục 861, 862).

Ngày 06/09/2024, xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đủ căn cứ xác định Trần Văn H và Phạm Hồng N đã thực hiện hành vi lừa đảo trên, Cơ quan CSĐT – CAH Phú Bình, CAT Thái Nguyên đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra ngày 06/7/2024 tại TDP 2, TT Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, cùng ngày ra Quyết định khởi tố bị cáo đối với Trần Văn H và Phạm Hồng N về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Ngày 23/9/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Phú Bình đã ra Quyết định xử lý vật chứng tiến hành trao trả 13 tấm pin năng lượng mặt trời nhãn hiệu LONGI cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đặng Thị Lan Anh. Chị Lan Anh đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Ngày 01/11/2024, Cơ quan CSĐT – CAQ Nam Từ Liêm tiếp nhận hồ sơ vụ án trên theo Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền số 41 ngày 30/10/2024 của VKSND tỉnh Thái Nguyên.

* Đối với hình thức lừa bán phần mềm giả mạo có chức năng theo dõi điện thoại từ xa:

Hải tìm và mua được từ một tài khoản trên mạng xã hội Telegram (Không rõ thông tin người bán) một tên miền có địa chỉ https://phanmem688.com với giá 3.000.000VNĐ, có giao diện là “Phần mềm theo dõi điện thoại từ xa”, trong đó có hiển thị các tính năng mà phần mềm có thể theo dõi được gồm: Nội dung tin nhắn, định vị vị trí của số điện thoại cần theo dõi, nội dung hoạt động của các tài khoản mạng xã hội. Tiếp theo thông qua mua, bán trên mạng xã hội, Hải mua các điện thoại cũ, mua các số thuê bao không chính chủ gắn vào các điện thoại, tải các hình ảnh CCCD trôi nổi trên mạng, dùng các thuê bao rác đăng ký tạo các tài khoản trên các mạng xã hội Zalo, Facebook; Mua tài khoản ngân hàng mang tên doanh nghiệp là Công ty doanh nghiệp là tài khoản số 7879356666 tên CTY VIN GLOBAL INVESTMENT DEVELOPMENT của ngân hàng VP Bank nhằm mục đích tạo sự tin tưởng cho người bị hại khi giao dịch và phục vụ việc nhận tiền của người bị hại chuyển đến.

Đối với hình thức lừa đảo này, Hải rủ Nguyễn Đại P, Nguyễn Quang T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu Thuận cùng thực hiện. Hải phát cho mỗi người mỗi điện thoại dùng để lừa đảo, Hải lập các tài khoản Facebook, thuê người chạy quảng cáo cho từng Facebook với nội dung quảng cáo bán phần mềm, tại bài quảng cáo đã gắn kèm sẵn thông tin số điện thoại hướng dẫn người mua liên hệ với các tài khoản Zalo đã lập.

Thủ đoạn dẫn dắt người mua để chiếm đoạt tài sản như sau:

  • - Bước 1: Hướng dẫn khách đến mạng xã hội Zalo để liên lạc
  • Khi có người mua tương tác vào bài viết quảng cáo trên Facebook sẽ được thông báo đến ứng dụng “Business Suite” cài đặt trên điện thoại. Từ ứng dụng này, bị cáo sẽ gửi các tin nhắn với nội dung đã soạn sẵn các thông tin cơ bản về phần mềm, hướng dẫn người mua kết bạn liên lạc qua tài khoản Zalo để được tư vấn về phần mềm.

  • - Bước 2: Dẫn dắt khách mua phần mềm
  • Tư vấn, quảng cáo phần mềm có nhiều tính năng như theo dõi nội dung tin nhắn, định vị vị trí của số điện thoại cần theo dõi, kiểm soát được các nội dung hoạt động của các tài khoản mạng xã hội cần theo dõi. Tiếp theo gửi địa chỉ https://phanmem688.com, hướng dẫn khách truy cập, cài đặt, tạo cho khách niềm tin khi nhìn thấy trên giao diện phần mềm thể hiện chức năng mà phần mềm có thể thực hiện. Khách muốn sử dụng được phải thanh toán 800,000VNĐ vào tài khoản số 7879356666 tên CTY VIN GLOBAL INVESTMENT DEVELOPMENT của ngân hàng VP Bank để được cấp mã sử dụng phần mềm để được sử dụng trọn gói phần mềm.

  • - Bước 3: Dẫn dắt khách mua gói cước để sử dụng
  • Khi khách đã thanh toán 800.000VNĐ, đối tượng tiếp tục yêu cầu phải mua thêm gói cước thuê bao sử dụng phần mềm với giá từ 3.000.000VNĐ đến 5.000.000VNĐ tương ứng với thời gian sử dụng. Khách đồng ý, hướng dẫn khách tiếp tục chuyển tiền vào tài khoản mang tên công ty trên.

  • - Bước 4: Tiếp tục đưa ra các lý do gian dối để chiếm đoạt thêm tiền của khách
  • Với khách đã đồng ý mua gói cước, đối tượng gửi cấp mã thuê bao, hướng dẫn khách nhập số điện thoại cần theo dõi. Tuy nhiên vì là tên miền không có tính năng như quảng cáo nên khi khách thực hiện theo hướng dẫn thì vẫn không sử dụng được do đó sẽ chủ động liên hệ để thắc mắc. Lúc này, tùy theo diễn biến tâm lý của từng khách, Hải sẽ có các thủ đoạn để khách phải tiếp tục chuyển tiền như đưa ra các lý do là khách đã ghi sai nội dung chuyển tiền, thao tác các lệnh chuyển tiền không đúng hướng dẫn, phần mềm cần phải đóng phí “xét duyệt và bảo lãnh”, trước đó Hải đều hứa hẹn sẽ hoàn trả lại số tiền đã chuyển. Nếu thấy người bị hại không tin tưởng, không tiếp tục chuyển tiền các đối tượng sẽ chặn các liên lạc.

Trong thời gian từ tháng 7/2024 đến tháng 8/2024, nhóm Hải, Phúc, Thuận, Thái, Nghị, Huy đã thực hiện hai vụ án cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 31/7/2024, anh Nguyễn Văn Thăng (SN 1980; HKTT: Thôn Đại Sơn, xã Hoàng Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) tương tác bài viết quảng cáo của tài khoản Facebook “Phần Mềm Quản Lý Gia Đình Vĩnh Phát" để mua phần mềm định vị, khi này Thái và Hải đang ở cùng nhau, thấy có thông báo người dùng nhắn tin trên ứng dụng Business Suite của điện thoại Iphone Xr màu trắng, Imei 357379096125940, gắn sim 0783156739, quản lý tài khoản Zalo “Lê Dũng” nên Thái đã trả lời bằng các tin nhắn soạn sẵn, hướng dẫn anh Thăng liên lạc qua tài khoản Zalo “Lê Dũng”. Sau đó, Thái sử dụng tài khoản “Lê Dũng” nhắn tin, nói chuyện giới thiệu phần mềm phanmem688.com có chức năng theo dõi điện thoại, giá phần mềm là 800.000VNĐ. Khoảng 14h20, ngày 03/8/2024 tại quán cà phê Highldans coffe ở số 28 Trần Hữu Dực, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội, anh Thăng nhắn tin lại đồng ý mua và được Thái hướng dẫn chuyển tiền thanh toán vào tài khoản 7879356666 tên CTY VIN GLOBAL INVESTMENT DEVELOPMENT và chuyển khoản 800.000 đồng cho Dũng. Sau khi, Hải báo đã nhận được tiền, Thái gửi cho anh Thăng đường dẫn và mã phần mềm số 227379, gửi cho anh Thăng một đoạn video hướng dẫn cài đặt phần mềm ra màn hình chính và yêu cầu anh Thăng phải tiếp tục mua gói cước để sử dụng. Anh Thăng đồng ý mua gói cước 02 năm và đã chuyển thanh toán cho Hải số tiền 4.000.000VNĐ. Tuy nhiên do không sử dụng được nên anh Thăng liền liên lạc lại để thắc mắc, lúc này Hải trực tiếp nghe máy, lần lượt lấy lý do anh Thăng không ghi nội dung chuyển khoản đúng cú pháp theo yêu cầu nên phần mềm không hoạt động được, Hải đã dẫn dắt anh Thăng thêm 03 lần chuyển tiền, mỗi lần chuyển 4.000.000VNĐ để có thể nhận được mã gói cước sử dụng phần mềm là 123689, trước các lần chuyển tiền, để anh Thăng tin tưởng Hải đều hứa hẹn sẽ hoàn trả lại đầy đủ số tiền đã chuyển. Sau khi có được mã gói cước do Hải gửi, anh Thăng vẫn không sử dụng được phần mềm nên lại thắc mắc thì Hải tiếp tục yêu cầu anh Thăng phải chuyển 7.000.000VNĐ với lý do là cần phí để xét duyệt an ninh, bảo lãnh cho phần mềm được hoạt động vì vi phạm quyền riêng tư. Sau khi anh Thăng đã chuyển 7.000.000VNĐ, Hải tiếp tục yêu cầu chuyển thêm 7.000.000VNĐ với lý do là phần xét duyệt riêng và phần bảo lãnh riêng, tức là phải chuyển thành hai lần với mỗi lần số tiền là 7.000.000VNĐ. Thời điểm này tổng số tiền đã chiếm đoạt của anh Thăng là 30.800.000VNĐ, Hải tiếp tục yêu cầu anh Thăng chuyển tiếp 14.000.000VNĐ nữa nhưng anh Thăng không đồng ý. Biết không thể chiếm đoạt được thêm tiền của anh Thăng nên Hải liền chặn liên lạc. Số tiền chiếm đoạt được của anh Thăng là 30.800.000VNĐ, Hải tiêu sài số tiền này không chia hưởng lợi cho Thái.

Vụ thứ hai: Ngày 06/8/2024, lúc này tại phòng ở có Hải, Nghị, Thuận, Phúc, Huy. Phúc thấy có thông báo người dùng nhắn tin trên ứng dụng Business Suite của điện thoại Iphone Xr màu trắng, Imei 357379096125940, gắn sim 0783156739, đăng nhập tài khoản Zalo “Lê Dũng” là của anh Nguyễn Văn Công (SN 1979; HKTT: Thôn Hán Đà, xã Hán Quảng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) do đã tương tác với bài viết quảng cáo của tài khoản Facebook “Công ty phần mềm Lê Dũng" để mua phần mềm định vị nên Phúc đã nhắn tin trả lời anh Công bằng các tin nhắn soạn sẵn hướng dẫn anh Công liên lạc qua tài khoản Zalo “Lê Dũng” để được tư vấn. Tiếp theo, Thuận sử dụng điện thoại trên gọi điện cho anh Công để tư vấn phần mềm, thông báo giá mua phần mềm là 800.000VNĐ, yêu cầu anh Công chuyển tiền vào tài khoản 7879356666 tên CTY VIN GLOBAL INVESTMENT DEVELOPMENT, anh Công đồng ý và chuyển khoản 800.000 đồng vào tài khoản này. Sau khi Hải thông báo nhận được tiền, lúc này Huy sử dụng điện thoại trên gửi mã 227379 (quảng cáo là mã sử dụng phần mềm) cho anh Công và hướng dẫn cài đặt, chào mời anh Công tiếp tục đăng ký mua gói cước thuê bao để sử dụng. Khoảng 10h20' cùng ngày, tại quán cà phê Milano trên đường Hàm Nghi, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội anh Công đồng ý chọn gói cước trị giá 3.000.000VNĐ rồi tiếp tục chuyển tiền nhưng không thấy được nhận mã gói cước nên đã gọi lại. Lúc này, Hải trực tiếp nghe máy, nói anh Công đã ghi sai nội dung chuyển tiền nên cần phải chuyển lại 3.000.000VNĐ, ghi đúng nội dung theo yêu cầu, hứa hẹn sẽ hoàn trả lại. Sau khi anh Công đã chuyển tiếp 3.000.000VNĐ và có ghi chú nội dung giao dịch theo Hải hướng dẫn thì Hải đã gửi mã gói cước là 123689 cho anh Công. Khi thực hiện nhập mã theo đúng hướng dẫn nhưng vẫn không sử dụng được nên anh Công đã liên lạc lại thì được Hải hướng dẫn liên hệ nhân viên kỹ thuật có tài khoản Zalo “Anh Tú” ( Đây là tài khoản Nghị đang quản lý sử dụng) để được hỗ trợ xử lý với mục đích để tiếp tục tạo sự tin tưởng cho anh Công giữ liên lạc để có cơ hội tiếp tục dẫn dắt anh Công chuyển thêm tiền. Khi này, Nghị đang ở phòng sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs, đăng nhập tài khoản ứng dụng Zalo tên “Anh Tú” thì có tài khoản ứng dụng Zalo tên “Nhà Hàng Thùy Linh” của anh Công sử dụng gửi lời kết bạn, biết là khách mua phần mềm nên Nghị đưa lại cho Hải sử dụng. Hải dùng tài khoản Zalo “Anh Tú” đóng vai là nhân viên kỹ thuật, hướng dẫn anh Công khắc phục lỗi sử dụng phần mềm. Hải yêu cầu anh Công chuyển số tiền 12.000.000VNĐ lý do là phí an ninh và bảo lãnh và lấy lại số tiền đã chuyển trước đó. Tuy nhiên, anh Công không thực hiện chuyển một lần và chuyển thành hai lần, mỗi lần là 6.000.000VNĐ vào tài khoản 7879356666 tên CTY VIN GLOBAL INVESTMENT DEVELOPMENT. Lúc này, Hải đưa lại điện thoại có tài khoản “Anh Tú” cho Nghị sử dụng, báo cho Nghị biết là anh Công đã chuyển tiền, rồi Hải gửi vào tài khoản “Anh Tú” một đoạn hội thoại do Hải ghi âm sẵn với nội dung giả mạo người kế toán của công ty, yêu cầu anh Công phải chuyển một lần 12.000.000VNĐ theo đúng như đã hướng dẫn thì mới được nhận lại tiền. Nghị dùng tài khoản “Anh Tú” chuyển tiếp đoạn hội thoại này cho anh Công nhưng do chưa có tiền nên anh Công không chuyển tiền nữa nên Nghị giục anh Công nhanh chóng thanh toán tiền, bảo lưu hồ sơ cho anh Công để giải quyết sau. Tổng số tiền anh Công bị chiếm đoạt là 18.800.000VNĐ, số tiền này Hải dùng để tiêu sài cá nhân và chi trả sinh hoạt chung và không chia tiền hưởng lợi cho từng người.

Đối với hình thức lừa đảo này vai trò của từng bị cáo như sau:

  • Nguyễn Văn Ng sử dụng điện thoại Iphone Xs màu đen, Imei 356165092437624, gắn sim số 0858398438, sử dụng tài khoản Zalo “Anh Tú”, tài khoản Facebook “Tiến Đạt” được đăng nhập sẵn trên máy. Trực tiếp thực hiện từ Bước 1 đến Bước 3. Hưởng lợi 30% số tiền chiếm đoạt được theo từng người bị hại mà Nghị trực tiếp đã lừa đảo.

  • Nguyễn Quang H sử dụng điện thoại Iphone 6s, màu bạc, Imei 355694071894100, gắn sim số 0796342943, sử dụng tài khoản Zalo “Duy Tiến” được đăng nhập sẵn trên máy. Trực tiếp thực hiện từ Bước 1 đến Bước 3. Hưởng lợi 30% số tiền chiếm đoạt được theo từng người bị hại mà Huy trực tiếp đã lừa đảo.

  • Nguyễn Quang T sử dụng điện thoại Iphone 6s, màu vàng, Imei 356647080083148, gắn sim số 0366751876, sử dụng tài khoản Zalo “Trần V Thông” được đăng nhập sẵn trên máy. Trực tiếp thực hiện từ Bước 1 đến Bước 3. Hưởng lợi 30% số tiền chiếm đoạt được theo từng người bị hại mà Thái trực tiếp đã lừa đảo.

  • Nguyễn Đại P và Nguyễn Hữu Thuận do chưa thể tự thực hiện, vẫn trong thời gian học việc nên chỉ được giao nhiệm vụ khi những người khác bận, sẽ thực hiện Bước 1, trả lời với khách các tin nhắn đã soạn sẵn giới thiệu phần mềm. Không được hưởng lợi chia tiền nhưng được Hải lo chi phí sinh hoạt.

  • Còn Trần Văn H sử dụng điện thoại Iphone Xr màu trắng, Imei 357379096125940, gắn sim 0783156739, quản lý tài khoản Zalo “Lê Dũng”, tài khoản Facebook “Phần Mềm Quản Lý Gia Đình Vĩnh Phát" và tài khoản Facebook “Công ty phần mềm Lê Dũng” được đăng nhập sẵn trên máy. Có vai trò quản lý chung và thực hiện đến Bước 4, hỗ trợ các đối tượng khác trong việc gọi điện trực tiếp cho khách để lôi kéo khách chuyển tiền. Hưởng 70% số tiền chiếm đoạt được. Quá trình sinh sống, Hải yêu cầu cất giữ các điện thoại sử dụng lừa đảo tại phòng, khi có khách nhắn tin đến các thành viên đều có thể tự sử dụng điện thoại của người khác để thực hiện hành vi lừa đảo theo nhiệm vụ đã được giao.

Như vậy tổng số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt như sau:

  • - Trần Văn H và Phạm Hồng N chịu trách nhiệm tổng số tiền đã chiếm đoạt của anh Lê Văn Đ, Đào Huy Hoài, Lê Văn Khương là 70.300.000VNĐ.

  • - Trần Văn H, Nguyễn Đại P, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H chịu trách nhiệm số tiền đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Công là 18.800.000VNĐ.

  • - Trần Văn H và Nguyễn Quang T chịu trách nhiệm số tiền đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Thăng là 30.800.000VNĐ.

Đối với tài khoản số 7879356666 tên CTY VIN GLOBAL INVESTMENT DEVELOPMENT của ngân hàng VP Bank mà các bị cáo sử dụng để nhận tiền lừa đảo. Quá trình điều tra thể hiện: Chủ đăng ký tài khoản là Công ty TNHH Phát triển và Đầu Tư Vin Global (tên nước ngoài Vin Global Investment anh Development company limited, địa chỉ trụ sở chính tại số 118 Hồng Đô, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Đăng ký thông tin người đại diện pháp luật là Nguyễn Cẩm Tú (SN 15/05/1997; CCCD: [...]; HKTT: Thường La Gián, Sơn Tây , Hà Nội). Xác minh tại địa chỉ 118 Hồng Đô không có công ty có tên trên hoạt động. Tiến hành xác minh Nguyễn Cẩm Tú tại Phòng Cảnh sát quản lý về TTXH - CATP Hà Nội xác định không có thông tin về công dân được cấp số CCCD [...]. Trên địa bàn Thị xã Sơn Tây không có đơn vị hành chính tên Thường La Gián.

+ Đối với tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB, mà các bị cáo sử dụng để nhận tiền lừa đảo. Quá trình điều tra thể hiện: Chủ đăng ký tài khoản là Nguyễn Hoàng Vương (SN 19/06/2006; CCCD: [...]; HKTT: Thôn 14, xã Ea Ô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk), Cơ quan CSĐT - CAQ Nam Từ Liêm đã tiến hành mời và ghi lời khai của anh Nguyễn Hoàng Vương. Anh Vương khai nhận không đăng ký mở tài khoản số 17012631. Trong năm 2024, anh Vương có nhận được nhiều cuộc điện thoại của nhiều người tự xưng là nhân viên của nhiều ngân hàng, chào mời anh Vương đăng ký mở tài khoản ngân hàng để nhận ưu đãi. Anh Vương có chụp ảnh CCCD, gửi cho những người này tuy nhiên sau đó không nhận được thẻ ngân hàng nào để sử dụng.

+ Đối với các tài khoản ngân hàng có phát sinh giao dịch với tài khoản số 17012631 mang tên NGUYEN HOANG VUONG của ngân hàng ACB và tài khoản số 7879356666 tên CTY VIN GLOBAL INVESTMENT DEVELOPMENT của ngân hàng VP Bank:

Căn cứ vào sao kê giao dịch của hai tài khoản trên, Cơ quan CSĐT đã xác định có 77 tài khoản thuộc 16 ngân hàng, Cơ quan CSĐT đã ra yêu cầu xác minh thông tin chủ các tài khoản trên nhưng chưa có kết quả trả lời.

+ Đối với các thuê bao bị cáo sử dụng:

Cơ quan CSĐT đã có Yêu cầu đề nghị các nhà cung cấp mạng viễn thông gồm Tập đoản Công nghiệp – Viễn thông Quân đội, Tổng công ty hạ tầng mạng VNPT, Công ty dịch vụ Mobifone – Khu vực 1 cung cấp các thông tin liên quan đến các thuê bao 0789156739, 0796342943, 0858398438, 0853246389, 0366751876, 0858390286. Đến nay xác định thông tin chủ thuê bao 0853246389 là Nguyễn Văn Chín (SN: 09/02/1969;CCCD: [...]; HKTT: Thôn Phủ Khánh, xã Liên Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), chủ thuê bao 0858398438 là Lê Thị Thu Nga (SN 12/11/1965; CCCD [...]; HKTT: Buôn M’ăk, thôn Cư M'ta, huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk)

Cơ quan CSĐT đã ra Ủy thác điều tra đối với Cơ quan CSĐT – CAH Lập Thạch, CAT Vĩnh Phúc và Cơ quan CSĐT – CAH M’Drắk, CAT Đắk Lắk tiến hành xác minh nhân thân đối với hai chủ thuê bao trên, triệu tập ghi lời khai để làm rõ vai trò liên quan nhưng chưa có kết quả trả lời. Đối với các thuê bao khác chưa có kết quả trả lời

+ Đối với tài khoản mạng xã hội Zalo “Đl Hoàng Vương”, “Lê Dũng”, “Anh Tú”, “Duy Tiến”, “Trần V Thông”:

Cơ quan CSĐT đã có Yêu cầu đề nghị Công ty CP VNG cung cấp các thông tin liên quan đến các tài khoản trên, đến nay đã có kết quả trả lời xác định tài khoản “Đl Hoàng Vương” được đăng ký từ số điện thoại 0853.246.xxx (Đã thu giữ của Phạm Hồng Ngọc), được khởi tạo vào ngày 30/5/2024, phù hợp với lời khai của các bị cáo. Đối với các tài khoản khác, chưa có kết quả trả lời.

Do chưa có văn bản trả lời của các ngân hàng, nhà mạng, và công ty VNG nên ngày 07/11/2024, cơ quan điều tra ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan vụ án để điều tra làm rõ sau.

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Anh Lê Văn Đ yêu cầu bồi thường số tiền 37.500.000VNĐ, Nguyễn Văn Công yêu cầu bồi thường số tiền là 18.800.000VNĐ, anh Nguyễn Văn Thăng yêu cầu bồi thường số tiền 30.800.000VNĐ, anh Đào Huy Hoài yêu cầu bồi thường số tiền 21.300.000VNĐ, anh Lê Văn Khương yêu cầu bồi thường số tiền 11.500.000VNĐ. Đến nay, các bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả, đền bù số tiền đã chiếm đoạt được của các bị hại. Các bị hại đều không có yêu cầu nhận bồi thường khác, có đơn đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Tại cơ quan điều tra Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Đại P, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H khai phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.

Lời khai nhận tội của Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người liên quan, vật chứng đã thu giữ và những tài liệu điều tra khác.

Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKSNTL ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Văn H và bị cáo Phạm Hồng N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 174 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo thừa nhận lợi dụng lòng tin của các bị hại để chiếm đoạt tiền lấy tiền để tiêu sài cá nhân.

Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 12/CT-VKSNTL ngày 14/01/2025.

Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng:

* Hình phạt chính:

  • + Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS, đề nghị Trần Văn H mức án 36 tháng đến 39 tháng tù giam.

  • + Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS, đề nghị Phạm Hồng N mức án 33 tháng đến 36 tháng tù giam.

  • + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS, đề nghị Nguyễn Văn Ng mức án 30 tháng đến 33 tháng tù giam.

  • + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, đề nghị Nguyễn Quang T mức án 26 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 52-60 tháng.

  • + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, đề nghị Nguyễn Đại P mức án 26 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 52-60 tháng.

  • + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, đề nghị Nguyễn Đức T mức án 26 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 52-60 tháng.

  • + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, Điều 90, 91, 101 BLHS đề nghị Nguyễn Quang H mức án 21 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 42- 48 tháng.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, 106 BLTTHS đề nghị xung công quỹ 01 điện thoại Iphone Xs màu đen, gắn sim điện thoại; 01 điện thoại Iphone 6s, màu bạc, gắn sim điện thoại; 01 điện thoại Iphone 6s, màu vàng, gắn sim điện thoại; 01 điện thoại Iphone Xr màu trắng, gắn sim điện thoại; 01 điện thoại Iphone 7 Plus, màu vàng, gắn sim điện thoại.

* Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về dân sự: không

Về án phí: Hải, Ngọc, Thái, Phúc, Thuận, Nghị, Huy phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Huy – bà Nguyễn Thị Nga phát biểu:

Nhận thấy tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 BLHS là có cơ sở, phù hợp với toàn bộ chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, cũng như qua lời khai của bị cáo và người liên quan trong phiên tòa hôm nay. Tuy nhiên, về mức hình phạt kính mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Quang H và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ sau đây:

Thứ nhất, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa này hôm nay hai bị cáo Nguyễn Quang H đã hoàn toàn thành khẩn tự giác khai báo chi tiết về hành vi phạm tội của mình, không quanh co chối tội, lời khai luôn thống nhất, đầy đủ và đúng sự thật những nội dung liên quan đến hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Điều này cho thấy bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm của mình, thể hiện sự ăn năn hối cải, khả năng có thể cải tạo của bản thân và mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do vậy, tôi đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ ở điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS.

Thứ hai: Về hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo: Trong vụ án này, hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ ràng, bị cáo cùng các đồng phạm đã có hành vi gian dối lừa anh Nguyễn Văn Công mua phần mềm định vị nhằm chiếm đoạt số tiền 18.800.000 đồng. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, cộng với trình độ văn hóa thấp nên khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn rất nhiều hạn chế. Bị cáo đang ở lứa tuổi còn chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, rất dễ có những hành vi bồng bột và nhất thời. Hơn nữa, bị cáo Nguyễn Quang H tham gia vụ án với vai trò là đồng phạm giúp sức.Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Quang H có hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình bị cáo làm nông nghiệp, bố của bị cáo hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện nên cuộc sống gia đình bị cáo gặp rất nhiều khó khăn vất vả. Gia đình của bị cáo ở địa phương đều chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của nhà nước. Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội, và mức độ không quá nghiêm trọng, do vậy, tôi đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ ở điểm i Khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, tôi đề nghị HĐXX căn cứ vào các quy tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội theo Điều 90,91 BLHS để xem xét quyết định đối với bị cáo.

Thứ Ba: Về vấn đề bồi thường khắc phục hậu quả: Bị cáo cùng với gia đình đã bồi thường khắc phục toàn bộ số tiền mà hai bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt của bị hại, bị hại đã nhận lại tiền và không có yêu cầu gì khác. Do vậy, tôi đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ ở điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS.

Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 174 BLHS; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 BLHS Điều 90, 91,101 BLHS, Điều 65 BLHS tuyên phạt bị cáo Nguyễn Quang H với mức án thấp nhất, cho bị cáo được hưởng án treo bị cáo được cải tạo ở bên ngoài xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước đối với các đối tượng là người chưa thành niên phạm tội.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H đều nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ tháng 06 năm 2024 đến tháng 08 năm 2024, Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Đại P, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H, Nguyễn Quang T đã thực hiện 05 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, huyện Thanh Oai, Hà Nội, huyện Phú Xuyên, tỉnh Thái Nguyên cụ thể như sau:

  • Vụ thứ nhất: Khoảng 17h ngày 14/06/2024, tại số 473 thôn Mùi, xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội, Trần Văn H, Phạm Hồng N đã có hành vi gian dối lừa anh Đào Duy Hoài đặt mua 03 bộ điều hòa Daikin của công ty TNHH kỹ sư điện máy nhằm chiếm đoạt số tiền 21.300.000 tiền thanh toán điều hòa của anh Hoài.

  • Vụ thứ hai: khoảng 17h30' ngày 01/07/2024, tại số 17 ngõ 61 đường Nguyễn Văn Giáp, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội, Trần Văn H, Phạm Hồng N đã có hành vi gian dối lừa anh Lê Văn Đ đặt mua 05 bộ điều hòa 2 chiều Inverter nhãn hiệu Daikin, công suất 12000BTU, mới 100% trị giá 63.800.000 đồng của công ty CP Thương mại và Sản xuất Hợp Phát nhằm chiếm đoạt 37.500.000 đồng tiền thanh toán điều hòa của anh Đồng.

  • Vụ thứ ba: Khoảng 10h14' ngày 06/07/2024, tại TDP 2, TT Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn H, Phạm Hồng N đã có hành vi gian dối lừa anh Lê Văn Khương đặt mua 13 tấm pin năng lượng mặt trời nhãn hiệu LONGI trị giá 18.200.000 đồng của chị Đặng Thị Lan Anh nhằm chiếm đoạt 11.500.000 đồng tiền thanh toán pin năng lượng của anh Khương.

  • Vụ thứ tư: Khoảng 14h20, ngày 03/8/2024 tại quán cà phê Highlands coffe ở số 28 Trần Hữu Dực, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội, Trần Văn H, Nguyễn Quang T đã có hành gian dối lừa anh Nguyễn Văn Thăng mua phần mềm định vị nhằm chiếm đoạt 30.800.000 đồng.

  • Vụ thứ năm: Khoảng 10h20' ngày 06/08/2024, tại quán cà phê Milano trên đường Hàm Nghi, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội, Trần Văn H, Nguyễn Đại P, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H đã có hành vi gian dối lừa anh Nguyễn Văn Công mua phần mềm định vị nhằm chiếm đoạt 18.800.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt như sau:

  • Trần Văn H và Phạm Hồng N chịu trách nhiệm tổng số tiền đã chiếm đoạt của anh Lê Văn Đ, Đào Huy Hoài, Lê Văn Khương là 70.300.000VNĐ.

  • Trần Văn H và Nguyễn Quang T chịu trách nhiệm số tiền đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Thăng là 30.800.000VNĐ.

  • Trần Văn H, Nguyễn Đại P, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang H chịu trách nhiệm số tiền đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Công là 18.800.000VNĐ.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức về điều khiển hành vi, các bị cáo đã thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại nên phải có hình phạt nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Các bị cáo phạm tội giản đơn. Bị cáo Trần Văn H là người khởi xướng, rủ các bị cáo khác phạm tội, là người trực tiếp đưa điện thoại cho các bị cáo khác để thực hiện hành vi phạm tội, là người phân công nhiệm vụ cho từng bị cáo nên bị cáo giữ vai trò đầu vụ trong vụ án. Bị cáo Ngọc là người trực tiếp rủ các bị cáo khác cùng tham gia phạm tội, nên bị cáo đứng vai trò thứ hai trong vụ án. Các bị cáo khác có mức án tương ứng với hành vi của các bị cáo gây ra. Đối với bị cáo Nghị đã có 1 tiền án, chưa được xóa án tích, lần này bị cáo phạm tội là tái phạm. Do vậy cần cách ly các bị cáo Hải, Ngọc, Nghị trên ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P, và Nguyễn Quang H đều có nhân thân tốt, đều chưa có tiền án tiền sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Gia đình bị cáo Nguyễn Đức T là người có công với cách mạng. Gia đình bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho các bị hại. Do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Huy phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Do vậy không nhất thiết phải cách ly các bị cáo Thái, Thuận, Phúc, Huy ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương theo Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ sức giáo dục các bị cáo trở thành người tốt.

[4] Khi lượng hình phạt, xét các bị cáo tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, hậu quả đã được khắc phục, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Văn Ng gia đình các bị cáo có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hải và bị cáo Ngọc phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nghị có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự, các bị cáo Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, tuy nhiên các bị cáo là đối tượng không nghề nghiệp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về dân sự: Bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước các điện thoại sau do các bị cáo sử dụng để thực hiện việc phạm tội:

  • + 01 điện thoại Iphone Xs màu đen, Imei 356165092437624, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy;

  • + 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc, Imei 355694071894100, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy;

  • + 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng, Imei 356647080083148, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy;

  • + 01 điện thoại Iphone Xr màu trắng, Imei 357379096125940, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy;

  • + 01 điện thoại Iphone 7plus màu vàng, Imei 356697085914359, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 68 ngày 22/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa và người đại diện cho bị cáo Huy có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo: Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Văn Ng,

Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H phạm tội

“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Áp dụng: điểm a, c, khoản 2, Điều 174; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2024.

  2. Áp dụng: điểm a, c, khoản 2, Điều 174; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng N 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2024.

  3. Áp dụng: điểm a khoản 2, Điều 174; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ng 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2024.

  4. Áp dụng: điểm a khoản 2, Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 (Năm mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Thái cho UBND xã Hội Hợp, huyện Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

  5. Áp dụng: điểm a khoản 2, Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 (Năm mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Thuận cho UBND xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Thuận đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

  6. Áp dụng: điểm a khoản 2, Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đại P 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 (Năm mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Phúc cho UBND xã Tử Du, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Phúc đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

  7. Áp dụng: điểm a khoản 2, Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang H 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Huy cho UBND xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Đối với các bị cáo được hưởng án treo:

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

8. Về dân sự:

Các bị hại đã nhận tiền bồi thường, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.

9. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước.

  • + 01 điện thoại Iphone Xs màu đen, Imei 356165092437624, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy;

  • + 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc, Imei 355694071894100, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy;

  • + 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng, Imei 356647080083148, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy;

  • + 01 điện thoại Iphone Xr màu trắng, Imei 357379096125940, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy;

  • + 01 điện thoại Iphone 7plus màu vàng, Imei 356697085914359, gắn 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 68 ngày 22/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

10. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

11. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Các bị cáo Trần Văn H, Phạm Hồng N, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Quang T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đại P và Nguyễn Quang H, người bào chữa cho bị cáo Huy, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Huy có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhân :

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại.
  • - NCQLNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Người đại diện;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND TPHΝ;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự
  • quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Kim Th

24

25

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H và đồng phạm phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger