Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO YÊN

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 12/11/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quý Sáng và Bà Đinh Thị Út.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Tuấn – Thư ký TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền và bà Hoàng Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Vũ Thành C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 29 tháng 12 năm 1980 tại: Huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ G, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Nguyên cán bộ; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Vũ Quang K, sinh năm: 1946 (đã chết); Con bà: Vũ Thị T, sinh năm 1947 (đã chết); Gia đình bị cáo có 6 anh em, bị cáo là con thứ 5; Vợ là: Hoàng Thị Thu H1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ G, thị trấn P, huyện B, Lào Cai; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo Vũ Thành C bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

  3. Trần Thị Mai H2; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 18 tháng 02 năm 1979 tại: huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn I Vài S, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Nguyên công chức; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Văn Đ. Sinh năm: 1928; Con bà: Lê Thị L. Sinh năm: 1935 (đã chết); Gia đình bị cáo có 7 anh em, bị cáo là con thứ 7; Chồng: Nguyễn Viết C1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: thôn I Vài S, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo Trần Thị Mai H2 hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

  5. Hoàng Văn C2; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 06 tháng 7 năm 1985 tại: Huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Nguyên công chức; Trình độ học vấn: 12/12; Bố là: Hoàng Văn V, sinh năm: 1952; Mẹ là: Long Thị N, sinh năm: 1950; Gia đình bị cáo có 7 anh em, bị cáo là con thứ 4; Vợ là: Hoàng Thị P, sinh năm 1992; Nơi cư trú: bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;
  6. Bị cáo Hoàng Văn C2 hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thành C: 1. Ông Nguyễn Văn H3 - Luật sư Văn Phòng L2 - Đoàn Luật sư tỉnh T; Có mặt. 2. Bà Nguyễn Thu H4 – Luật sư của Công ty L3, huyện S, thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Số C, Ngõ B, M, phường Y, quận C, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • * Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mai H2 – Ông Trần Quốc C3 - Luật sư Công ty L4 - Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà N, số B Ngõ H, N, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt;
  • * Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C2: Bà Phạm Thị Hoa H5 - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai - Địa chỉ: Thị Trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trọng T1 - Chức vụ: Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện B. Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Trọng T1 là bà: Đặng Thị Hồng N1 - Chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài Chính - Kế hoạch huyện B; Có mặt.
  2. Ủy ban nhân dân xã X - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Hồng Q - Chức vụ: Chủ tịch ủy ban nhân dân xã X. Có mặt;
  3. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai - Địa chỉ: Tòa nhà S, K, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn Đ1 - Chức vụ: Giám đốc quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai. Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn Đ1 là ông: Vương Q - Chức vụ: Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai. Có mặt.
  4. Ông Hoàng Thanh B - Địa chỉ: Tổ G, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  5. Bà Lộc Thị T2 - Địa chỉ: Bản C L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt;
  6. Ông Hoàng Trung D - Địa chỉ: Tổ C, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt;
  7. Bà Nguyễn Thị V1 - Sinh năm 1969 - Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  8. Ông Hoàng Văn B1 - Sinh năm 1967 - Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  9. Ông Nguyễn Xuân M - Sinh năm 1967 - Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  10. Bà Lù Thị D1 - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  11. Ông Hoàng Văn V2 - Sinh năm 1989 - Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  12. Ông Hoàng Văn V3 - Địa chỉ: Bản Q, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  13. Ông Nguyễn Tiến P1 - Sinh năm 1990 - Địa chỉ: Bản V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  14. Ông Đặng Văn H6 - Sinh năm 1986 - Trú tại: Bản L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  15. Ông Hoàng Văn N2 - Sinh năm 1986 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  16. Ông Trang Tiến N3 - Sinh năm 1988 - Địa chỉ: Bản V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  17. Ông Hoàng Văn X - Sinh năm 1993 - Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  18. Ông Hoàng Ngọc K1 - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Bản Đ, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  19. Ông Trưởng Bình S - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt;
  20. Ông Chu Quốc P2 - Sinh năm 1979 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  21. Ông Hoàng Văn B1 - Sinh năm 1975 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  22. Ông Lù Văn T3 - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  23. Ông Triệu Tiến T4 - Sinh năm 1994 - Địa chỉ: Bản N, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  24. Ông Sùng Seo T5 - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  25. Ông Triệu Tiến Q1 - Sinh năm 1980 - Địa chỉ: Bản Q, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  26. Ông Vàng Seo S1 - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  27. Ông Lù Văn T6 - Sinh năm 1983 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  28. Ông Bàn Văn V4 - Sinh năm 1983 - Địa chỉ: Bản V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  29. Ông Lù Seo V5 - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  30. Ông Đặng Văn N4 - Sinh năm 1998 - Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  31. Ông Ma Vũ T7 - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  32. Ông Hoàng Văn S2 - Sinh năm 1988 - Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  33. Ông Hoàng Văn Ư - Sinh năm 1983 - Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  34. Ông Ly Seo H7 - Sinh năm 1982 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  35. Ông Long Văn H8 - Sinh năm 1988 - Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  36. Bà Hoàng Thị Thu H1 - Sinh năm 1982 - Địa chỉ: Tổ G, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt;
  37. Ông Dương Minh T8 - Địa chỉ: Tổ D, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  38. Ông Ma Xuân T9 - Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  39. Ông Lừu Pao C4 - Địa chỉ: Bản Q, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

Người làm chứng:

  1. Ông Hoàng Văn N5 - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Bản V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt;
  2. Ông Phạm Minh T10 - Sinh năm 1989 - Địa chỉ: Tổ F, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt;
  3. Ông Hoàng Văn T11 - Sinh năm 1983 - Địa chỉ: Bản V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt;
  4. Ông Hoàng Quốc C5 - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Bản C L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  5. Ông Cổ Văn T12 - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Bản Đ, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; Có mặt;
  6. Ông Lý Văn T13 - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Bản L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt;
  7. Bà Lô Thị K2 - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;
  8. Ông Cổ Văn C6 - Sinh năm 1982 - Địa chỉ: Bản M, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/4/2020 Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2019 cho UBND xã X số tiền 251.390.400₫ tại Kho bạc nhà nước huyện B. Đến ngày 24/7/2020 UBND xã X xây dựng Phương án số 01/PA-DVMTR sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng gửi đến Phòng Tài chính kế hoạch và UBND huyện thẩm định. Ngày 18/11/2020 UBND huyện B ban hành Quyết định số 3084/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi trả tiền DVMTR các xã, thị trấn năm 2019” trong đó UBND xã X được phê duyệt chi 245.012.000đ, gồm các khoản chi sau: Tiền hỗ trợ xăng dầu cho phương tiện tuần tra, kiểm tra rừng; Phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật, tập huấn; Tổ chức hội nghị, hội thảo sơ kết tổng kết; Chi văn phòng phẩm làm hồ sơ; Chi mua công cụ, dụng cụ bảo vệ rừng; Mua sắm tài sản cố định, dụng cụ vật tư văn phòng. Sau khi được cấp tiền, ngày 23 và ngày 24/12/2020 bị cáo Vũ Thành C – Chủ tịch UBND xã X, bị cáo Trần Thị Mai H2 – Kế toán UBND xã X (từ năm 2015 đến tháng 9/2021) và bị cáo Hoàng Văn C2 – Công chức văn phòng thống kê (Kiêm nhiệm Thủ quỹ UBND xã X từ năm 2016 đến nay) đã làm thủ tục chứng từ rút số tiền 201.346.500 đồng từ tài khoản của UBND xã X để nhập tiền mặt vào quỹ UBND xã X (do Hoàng Văn C2 được giao cầm quỹ), còn lại số tiền 43.665.000₫ để tại tài khoản để chi trả mua sắm trang thiết bị bằng hình thức chuyển khoản. Theo phương án, kế hoạch đã được UBND huyện B duyệt chi thì tổng số tiền 201.346.500đ đã rút về UBND xã X gồm 44.246.500 đồng là tiền chi hội nghị, khen thưởng tập thể, cá nhân. Trong đó tiền hội nghị là 40.000.000 đồng, tiền khen thưởng cho tập thể, cá nhân là 4.246.500 đồng; Số tiền 150.000.000 đồng là tiền xăng xe cho tổ đội quần chúng bảo vệ rừng; 7.100.000 đồng là tiền biên soạn tuyên truyền, bồi dưỡng phát thanh viên, tiền chè, nước.

Quá trình điều tra, xác minh thấy rằng bị cáo Vũ Thành C với cương vị là Chủ tịch UBND xã X - Chủ tài khoản của đơn vị, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo bị cáo Trần Thị Mai H2, bị cáo Hoàng Văn C2 lập hồ sơ, chứng từ khống để chi tiền DVMTR năm 2019 sai phương án chi trả, gây thiệt hại cho các cá nhân trong tổ đội quần chúng bảo vệ rừng năm 2019 là 212.871.500 đồng. Gồm các khoản chi sai như sau: Chi trả tiền văn phòng phẩm cho UNBD xã X với tổng số tiền là 11.525.000 đồng; Phát tiền quà tết dương lịch năm 2021 cho cán bộ Lãnh đạo ủy ban, cán bộ công chức, cấp trưởng phó quân sự, công an, các đoàn thể của UBND xã X là 12.600.000 đồng; Trả tiền UBND xã X nợ quán cơm V1 Bộ 40.000.000 đồng; Trả tiền UBND xã X nợ quán C8 30.000.000 đồng; Chi 10.000.000 đồng để bị cáo C mua máy GPS cho xã; Chi 53.000.000 đồng cho bị cáo C đi chúc tết; Chi 20.000.000 đồng cho bị cáo H2 nộp lệ phí đất 5% của xã; Phát tiền quà tết nguyên đán năm 2021 cho cán bộ, công chức làm việc tại UBND xã, công an viên, người hoạt động không chuyên trách của UBND xã X là 32.500.000 đồng; C7 cho thành phần dự buổi gặp mặt đầu xuân của UBND xã X năm 2021 là 2.100.000 đồng; C7 quà tết cho Trạm y tế xã X số tiền 1.146.500 đồng. Toàn bộ số tiền trên được lấy từ nguồn tiền chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2019. Bản thân bị cáo được hưởng lợi số tiền 1.500.000 đồng từ nguồn tiền DVMTR năm 2019.

Bị cáo Trần Thị Mai H2 là người có chức vụ, quyền hạn mặc dù biết số tiền 212.871.500 đồng từ nguồn DVMTR năm 2019 đã được bị cáo Vũ Thành C chỉ đạo chi sai mục đích, không đúng với phương án chi trả tiền DVMTR năm 2019 đã được phê duyệt. Nhưng bị cáo vẫn lợi dụng chức vụ và quyền hạn được giao là kế toán, lập khống chứng từ dịch vụ môi trường năm 2019 để hợp thức hóa số tiền 212.871.500 đồng. Bản thân bị cáo được hưởng lợi số tiền 1.600.000 đồng từ nguồn tiền DVMTR năm 2019.

Bị cáo Hoàng Văn C2 – với nhiệm vụ được giao làm thủ quỹ là người trực tiếp quản lý số tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2019 đã được giao cho UBND xã X. Bị cáo C2 biết số tiền 201.346.500 đồng rút về quỹ của UBND xã X là từ nguồn tiền DVMTR năm 2019. (Đối với số tiền 11.525.000 đồng bị cáo C và H2 chi trả tiền văn phòng phẩm cho UNBD xã X bị cáo C2 không biết và không liên quan). Tuy biết bị cáo Vũ Thành C chỉ đạo chi tiền DVMTR năm 2019 sai mục đích, không đúng với phương án chi trả tiền DVMTR năm 2019 đã được phê duyệt. Nhưng bị cáo Hoàng Văn C2 vẫn lợi dụng chức vụ và quyền hạn được giao là thủ quỹ, chi tiền DVMTR năm 2019 sai mục đích theo sự chỉ đạo của bị cáo C. Bản thân bị cáo Hoàng Văn C2 được hưởng lợi số tiền 1.600.000 đồng từ nguồn tiền DVMTR năm 2019.

Sau khi hành vi của các bị cáo bị phát hiện. Đến ngày 20/09/2023 bị cáo C gọi điện cho chị Lục Thị T14 là kế toán mới của UBND xã X thay cho bị cáo H2 chuẩn bị T15 để phát cho 25 thành viên trong tổ đội bảo vệ Môi trường rừng. Các thành viên tổ đội thống nhất với C mỗi người nhận 5.000.000 đồng, còn 1.000.000 đồng để lại ủng hộ xã làm hồ sơ giấy tờ và tổ chức một buổi liên hoan. 25 thành viên của tổ đội ký nhận số tiền 150.000.000 đồng nhưng trên thực tế nhận số tiền 125.000.000 đồng, số tiền còn lại là 25.000.000 đồng, các thành viên tổ đội thống nhất để lại ủng hộ xã làm hồ sơ giấy tờ và tổ chức một buổi liên hoan. Số tiền phát cho các thành viên tổ đội (gồm số tiền 20.000.000₫ của chị T14 đi vay và số tiền 120.000.000đ của bị cáo H2 đưa cho chị T14). Sau khi phát cho các thành viên trong tổ đội còn lại số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo C chỉ đạo chị T14 đưa cho anh L1 Pao Chớ - Phó Bí thư Đảng uỷ xã X số tiền 10.000.000 đồng và đưa cho anh Ma Xuân T9 - Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã X 2.000.000 đồng. Số tiền 3.000.000 đồng còn lại chị T14 đã sử dụng hết.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSBY ngày 17/7/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Vũ Thành C; Trần Thị Mai H2 và Hoàng Văn C2 về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vũ Thành C; Trần Thị Mai H2 và Hoàng Văn C2 phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 356; Điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thành C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo 02/02/2024.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 356; Điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Mai H2 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 356; Điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;

Tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi liên quan theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thành C: Luật sư Nguyễn Văn H3 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tại phiên tòa về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mai H2: Luật sư Trần Quốc C3 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tại phiên tòa về tội danh, về điều luật áp dụng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự. Xét xử bị cáo H2 ở mức thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C2: Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L bà Phạm Thị Hoa H5 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tại phiên tòa về tội danh, về điều luật áp dụng. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Quy định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố đối với các bị cáo, đồng ý và không bổ sung gì với quan điểm của người bào chữa đã bào chữa cho các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, Quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên Toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Hồ sơ quyết toán tiền dịch vụ Môi trường rừng năm 2020 của UBND xã X; Chứng từ dịch vụ Môi trường rừng năm 2020; Công văn, phối hợp xác minh giữa Công an huyện B và Hạt kiểm lâm huyện B; Phương án sử dụng tiền dịch vụ Môi trường rừng phục vụ cho Công tác quản lý, bảo vệ rừng xã X năm 2020; Công văn cung cấp thông tin của Phòng Tài chính và Kế hoạch huyện B; Biên bản xét duyệt thẩm định, quyết toán kinh phí Dịch vụ Môi trường rừng năm 2019 của UBND xã X; Biên bản làm việc với đại diện Ủy ban nhân dân xã X; Biên bản làm việc đối với các bị cáo; Biên bản niêm phong đồ vật tạm giữ; Biên bản mở kiểm tra, sao lưu dữ liệu; Biên bản họp Ban thường vụ Đảng ủy xã X; Báo cáo về kết quả khắc phục thiếu sót trong công tác chi trả tiền Dịch vụ Môi trường rừng năm 2019; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu Điện Tử; Quy chế làm việc của UBND xã X; Quyết định, Thông báo phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức UBND xã X; Quyết định ban hành quy chế chi tiêu nội bộ của UBND xã X; Quyết định trưng cầu giám định Hồ sơ thanh quyết toán tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2019 của UBND xã X; Kết luận giám định của Phòng K3 Công an tỉnh T và Công an huyện B; Các biên bản xác minh; Bản tự khai; Biên bản ghi lời khai của các bị cáo; Biên bản lấy lời khai của những người liên quan, những người làm chứng; Biên bản thực nghiệm điều tra; Bản kết luận điều tra số 12/KLĐT-CSĐT ngày 19 tháng 06 năm 2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B. Bản cáo trạng số 12/CT-VKSBY ngày 17/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:

Các bị cáo đều là người có chức vụ quyền hạn, chịu trách nhiệm trong việc triển khai chi tiền DVMTR 2019 theo phương án đã được UBND huyện B phê duyệt, các bị cáo đều nhận thức rõ tiền DVMTR năm 2019 phải được chi trả theo đúng phương án chi trả đã được UBND huyện B phê duyệt nhưng các bị cáo đã chi sai mục đích tiền DVMTR năm 2019, làm trái công vụ gây thiệt hại đến lợi ích cá nhân của 25 thành viên trong danh sách tổ đội bảo vệ rừng. Cụ thể: Bị cáo Vũ Thành C với cương vị là Chủ tịch UBND xã X - Chủ tài khoản của đơn vị, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo bị cáo Trần Thị Mai H2, bị cáo Hoàng Văn C2 lập hồ sơ chứng từ khống để chi tiền DVMTR năm 2019 sai phương án chi trả gây thiệt hại cho các cá nhân trong tổ đội quần chúng bảo vệ rừng năm 2019 là 212.871.500 đồng. Trong đó chỉ đạo bị cáo H2 chi sai là 212.871.500 đồng; Chỉ đạo bị cáo C2 chi sai là 201.346.500 đồng (Đối với số tiền 11.525.000 đồng bị cáo C và H2 chi trả tiền văn phòng phẩm cho UNBD xã X bị cáo C2 không biết và không liên quan);

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố các bị cáo về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo Vũ Thành C, Trần Thị Mai H2 và Hoàng Văn C2 đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nhà nước. Các bị cáo nhận thức được việc chi sai mục đích tiền DVMTR năm 2019 gây thiệt hại đến lợi ích của 25 thành viên trong danh sách tổ đội bảo vệ rừng là vi phạm pháp luật. Nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức; Làm cho cơ quan tổ chức bị mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nước nên cần phải xử lý các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Vũ Thành C với cương vị là Chủ tịch UBND xã X - Chủ tài khoản của đơn vị, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo bị cáo Trần Thị Mai H2, bị cáo Hoàng Văn C2 lập hồ sơ, chứng từ khống để chi tiền DVMTR năm 2019 sai phương án chi trả gây thiệt hại cho các cá nhân trong tổ đội quần chúng bảo vệ rừng năm 2019 là 212.871.500 đồng. Bản thân bị cáo Vũ Thành C được hưởng lợi số tiền 1.500.000 đồng từ nguồn tiền DVMTR năm 2019. Bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án với vai trò là người khởi xướng.

Đối với bị cáo Trần Thị Mai H2 là người có chức vụ, quyền hạn mặc dù biết số tiền 212.871.500 đồng từ nguồn DVMTR năm 2019 đã được bị cáo Vũ Thành C chỉ đạo chi sai mục đích, không đúng với phương án chi trả tiền DVMTR năm 2019 đã được phê duyệt. Nhưng bị cáo vẫn lợi dụng chức vụ và quyền hạn được giao là kế toán lập khống chứng từ dịch vụ môi trường năm 2019 để hợp thức hóa số tiền 212.871.500 đồng. Bản thân bị cáo Trần Thị Mai H2 được hưởng lợi số tiền 1.600.000đ từ nguồn tiền DVMTR năm 2019. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm trong vụ án với vai trò là người thực hành. Vai trò đồng phạm thứ hai trong vụ án.

Đối với Hoàng Văn C2 – Được giao nhiệm vụ thủ quỹ là người trực tiếp quản lý số tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2019 đã được giao cho UBND xã X quản lý. Bị cáo C2 biết số tiền 201.346.500 đồng rút về quỹ của UBND xã X là từ nguồn tiền DVMTR năm 2019. Tuy biết bị cáo Vũ Thành C chỉ đạo chi tiền DVMTR năm 2019 sai mục đích, không đúng với phương án chi trả tiền DVMTR năm 2019 đã được phê duyệt. Nhưng bị cáo vẫn lợi dụng chức vụ và quyền hạn được giao là thủ quỹ đã chi tiền DVMTR năm 2019 sai mục đích theo sự chỉ đạo của bị cáo Vũ Thành C. Bản thân bị cáo được hưởng lợi số tiền 1.600.000 đồng từ nguồn tiền DVMTR năm 2019. Bị cáo phải chịu trách nhiệm trong vụ án với vai trò là người thực hành. Vai trò đồng phạm thứ 3 trong vụ án.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Trong quá trình công tác các bị cáo đều được tặng thưởng nhiều Giấy khen. Riêng bị cáo C được chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng thưởng Bằng khen. Các bị cáo đều được những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các thành viên trong tổ đội bảo vệ rừng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo C được Ủy ban nhân dân xã X xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo C được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Hoàng Văn C2 có bố đẻ là ông Hoàng Văn V được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, được Bộ trưởng Bộ Q3 tặng Bằng khen nên bị cáo được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với các bị cáo Vũ Thành C, Trần Thị Mai H2 cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mỗi bị cáo đã thực hiện. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như gia cảnh của từng bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo Vũ Thành C, Trần Thị Mai H2 để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Hoàng Văn C2 không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 1 và khoản 2 Điều 51, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với vai trò thứ yếu trong vụ án, bị cáo là cán bộ văn phòng kiêm nhiệm công tác thủ quỹ xã, bị cáo thực hiện theo sự chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo và không thuộc các trường hợp không được hưởng án treo. Có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho gia đình kết hợp cùng với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo là phù hợp.

Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai về hình phạt, mức án đối với các bị cáo là phù hợp với tích chất mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo nên cần chấp nhận. Đối với đề nghị về mức hình phạt của người bào chữa cho bị cáo H2 và C2 là nhẹ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 356 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng". Xong xét thấy các bị cáo đã ăn năn hối cải, khắc phục toàn bộ thiệt hại, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 579 Bộ luật dân sự; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo H2 đã khắc phục cho các thành viên của tổ đội bảo vệ rừng số tiền là 120.000.000 đồng, chị Lộc Thị T2 đóng góp khắc phục cho tổ đội thêm 7.000.000 đồng, tổng là 127.000.000 đồng, 25 thành viên tổ đội xác nhận đã được nhận số tiền 150.000.000 đồng. Trong đó 25 thành viên tổ đội bảo vệ rừng mỗi thành viên nhận trực tiếp là 5.000.000 đồng, tổng là 125.000.000 đồng, số tiền còn lại là 25.000.000 đồng các thành viên tổ đội đã tự nguyện đóng góp để liên hoan cho tổ đội và cho các bị cáo. Tổng số tiền các bị cáo chi sai từ nguồn tiền DVMTR năm 2019 là 212.871.500 đồng. Các bị cáo đã khắc phục số tiền 150.000.000 đồng, số tiền còn lại là 62.871.500 đồng các bị cáo phải có trách nhiệm khắc phục, hoàn trả lại cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai.

Đối với số tiền 62.871.500 đồng các bị cáo phải có trách nhiệm khắc phục, hoàn trả lại cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên cán bộ và công chức xã X và Trạm y tế xã X cùng các bị cáo đã tự nguyện nộp lại được số tiền 40.000.000 đồng các bị cáo chi sai từ nguồn tiền DVMTR năm 2019 (Trong đó bao gồm số tiền 38.500.000 đồng đã thu hồi được trước đó theo lệnh thanh toán tiền mặt bản chính vào số tài khoản 8808203000010, của Công an huyện B mở tại Ngân hàng Nông nghiệp huyện B và số tiền 1.500.000 đồng bị cáo C đã tác động đến gia đình khắc phục theo Biên lai tạm thu tiền số 0001031 ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm khắc phục đối với số tiền còn lại là 22.871.500 đồng.

Đối với số tiền 20.000.000 đồng từ nguồn tiền DVMTR năm 2019, chi cho bị cáo H2 nộp tiền hoa lợi công sản từ quỹ đất công ích của xã, số tiền này đã nộp tại tài khoản Kho bạc Nhà nước huyện B vào ngân sách của huyện B năm 2020, sau đó được phân bổ về ngân sách của Ủy ban nhân dân xã X năm 2020 để sử dụng. Đến nay các bị cáo đã nộp tiền khắc phục thiệt hại. Tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của UBND xã X và các bị cáo đã thống nhất thỏa thuận về việc UBND xã X hoàn trả lại cho các bị cáo số tiền này;

Đối với số tiền chi 10.000.000 đồng, bị cáo C chi mua máy GPS cho UBND xã X từ nguồn tiền DVMTR năm 2019 đây là số tiền chi mua sắm thiết bị phục vụ cho hoạt động chuyên môn chung của đơn vị UBND xã X. Tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của UBND xã X và các bị cáo đã thống nhất thỏa thuận về việc UBND xã X hoàn trả lại cho các bị cáo số tiền này;

Đối với số tiền chị Lộc Thị T2 nộp để khắc phục thiệt hại cho tổ đội là 7.000.000 đồng và tiền đưa ông Lừu P3 Chớ 10.000.000 đồng. Tổng là 17.000.000 đồng. Đối với số tiền này là tiền riêng của chị T2 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần phải trả lại cho chị T2 số tiền này. Trong quá trình điều tra ông Lừu Pao C4 đã tự nguyện nộp lại số tiền 10.000.000 đồng. Các bị cáo còn phải khắc phục, hoàn trả cho chị T2 số tiền 7.000.000 đồng.

Tổng số tiền UBND xã X phải trả cho các bị cáo là 30.000.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của UBND xã X và các bị cáo thỏa thuận UBND xã X chịu trách nhiệm trả cho Q2 bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai số tiền các bị cáo còn phải khắc phục là 22.871.500 đồng và trả cho chị Lộc Thị T2 là 7.000.000 đồng. Tổng là 29.871.500 đồng. Còn lại số tiền 128.500 đồng các bị cáo và người đại diện theo pháp luật của UBND xã X thống nhất thỏa thuận để lại cho Ủy ban nhân dân xã X. UBND xã X không phải hoàn trả lại cho các bị cáo.

Đối với số tiền chi 53.000.000 đồng từ nguồn DVMTR năm 2019, bị cáo C đi chúc tết cho UBND xã X. Khoản chi này không phù hợp với quy chế làm việc và quy chế chi tiêu nội bộ của UBND xã X và không nhằm phục vụ cho hoạt động chuyên môn chung của UBND xã X. Do không xác định được bị cáo đi chúc tết cho những ai và những ban ngành nào, Cơ quan điều tra không tiến hành thu hồi được nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm khắc phục đối với số tiền này; Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra bị cáo H2 đã khắc phục toàn bộ số tiền này.

Đối với số tiền chi trả tiền văn phòng phẩm cho UNBD xã X với tổng số tiền là 11.525.000 đồng; Tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của UBND xã X và các bị cáo đã thỏa thuận về việc các bị cáo Vũ Thành C và Trần Thị Mai H2 chịu trách nhiệm khắc phục số tiền này; Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra bị cáo H2 đã khắc phục toàn bộ số tiền này.

Đối với khoản tiền UBND xã X trả tiền nợ quán cơm V1 Bộ 40.000.000 đồng và khoản tiền UBND xã X nợ quán C8 30.000.000 đồng; Tổng là 70.000.000 đồng. Khoản chi này không phù hợp với quy chế làm việc và quy chế chi tiêu nội bộ của UBND xã X và không nhằm phục vụ cho hoạt động chuyên môn chung của UBND xã X nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm khắc phục đối với số tiền này. Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra bị cáo H2 đã khắc phục toàn bộ số tiền này. Trong giai đoạn Tòa án giải quyết vụ án anh Hoàng Thanh B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án nộp lại số tiền 16.000.000 đồng theo Biên lai tạm thu tiền số 0001030 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên để trả tiền ăn tại quán cơm Vân B2. Bị cáo H2 đã khắc phục số tiền này trong quá trình điều tra, nên số tiền này cần chuyển lại cho bị cáo H2 là phù hợp.

Đối với khoản Phát tiền quà tết dương lịch năm 2021 cho cán bộ lãnh đạo, công chức, cấp trưởng, phó Quân sự, Công an, các đoàn thể của UBND xã X là 12.600.000 đồng; Phát tiền quà tết nguyên đán năm 2021 cho cán bộ, công chức, Công an viên, người hoạt động không chuyên trách của UBND xã X là 32.500.000 đồng; C7 cho thành phần dự buổi gặp mặt đầu xuân của UBND xã X năm 2021 là 2.100.000 đồng; C7 quà tết cho Trạm y tế xã X số tiền 1.146.500 đồng; Tổng là 48.346.500 đồng. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm khắc phục đối với số tiền này. Tuy nhiên cán bộ, công chức xã X và Trạm y tế xã X đã nộp lại số tiền 40.000.000 đồng, trong đó bao gồm số tiền 38.500.000 đồng đã thu hồi được trước đó và số tiền 1.500.000 đồng bị cáo C đã tác động đến gia đình khắc phục theo Biên lai tạm thu tiền số 0001031 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm khắc phục đối với số tiền còn lại do không tiến hành thu hồi được là 8.346.500 đồng. Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra bị cáo H2 đã khắc phục toàn bộ số tiền này.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng bị cáo C chỉ đạo chị Lục Thị T14 đưa cho anh Ma Xuân T9, đối với số tiền này Cơ quan điều tra không tiến hành thu hồi được nên bị cáo C phải chịu trách nhiệm hoàn trả. Số tiền này bị cáo H2 cũng đã khắc phục trong giai đoạn điều tra nên bị cáo C phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho bị cáo H2. Tại phiên tòa bị cáo C nhất trí chịu trách nhiệm trả số tiền này cho bị cáo H2.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử xác định tổng số tiền 03 bị cáo gây thiệt hại là: 212.871.500 đồng. Tuy nhiên cán bộ, công chức xã X và các bị cáo đã nộp lại tiền thưởng tết năm 2021 số tiền là 40.000.000 đồng. UBND xã X trả thay cho các bị cáo số tiền 29.871.500 đồng. Anh Hoàng Thanh B nộp lại số tiền 16.000.000 đồng. 25 thành viên của tổ bảo vệ rừng tự nguyện chi liên hoan cho tổ đội bảo vệ rừng và cho các bị cáo số tiền 25.000.000 đồng. Số tiền thiệt hại các bị cáo còn phải khắc phục là 102.000.000 đồng.

Xét mức độ lỗi của từng bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo Vũ Thành C phải khắc phục 50% thiệt hại tương ứng với số tiền 51.000.000 đồ ng và 2.000.000 đồng bị cáo C phải phải khắc phục tổng là 53.000.000 đồng. Bị cáo C đã tác động đến gia đình khắc phục số tiền 60.000.000 đồng theo Biên lai tạm thu tiền số 0001022 ngày 28/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, bị cáo C được trả lại 7.000.000 đồng.

Bị cáo Hoàng Văn C2 phải khắc phục 20% thiệt hại tương ứng với số tiền số tiền 20.400.000 đồng; Bị cáo C2 đã nộp khắc phục số tiền 50.000.000 đồng theo Lệnh thanh toán tiền mặt 06/05/2024, thông tin người nhận là: Công an huyện B, số tài khoản 8808203000010 tại Ngân hàng nông nghiệp huyện B, tỉnh Lào Cai, bị cáo được trả lại là 29.600.000 đồng.

Đối với số tiền bị cáo C và bị cáo C2 phải khắc phục là 53.000.000 đồng và 20.400.000 đồng. Tổng là 73.400.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra bị cáo H2 đã nộp khắc phục số tiền này nên cần chuyển lại cho bị cáo H2 là phù hợp.

Bị cáo Trần Thị Mai H2 phải khắc phục 30% thiệt hại tương ứng với số tiền 30.600.000 đồng. Bị cáo đã khắc phục số tiền 120.000.000 đồng, bị cáo được trả lại 89.400.000 đồng. Số tiền này được trích ra từ tiền bị cáo C, bị cáo C2 tự nguyện khắc phục và từ khoản tiền anh Hoàng Thanh B đã nộp trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

[7] Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Hội đồng xét xử xét thấy:

  • - Đối với số tiền 40.000.000 đồng (Trong đó gồm 38.500.000đ tiền thưởng tết của cán bộ công chức và người lao động UBND xã X đã nộp lại và 1.500.000 đồng bị cáo C đã nộp lại theo Biên lai tạm thu tiền số 0001031 ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên) cần trả lại cho Q2 Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai là phù hợp.
  • - Đối với số tiền 10.000.000đ ông Lừu Pao C4 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra, đây là tiền riêng của chị Lộc Thị T2 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần trả lại cho chị Lộc Thị T2 là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Thành C, Trần Thị Mai H2 và Hoàng Văn C2 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thành C, Trần Thị Mai H2 và Hoàng Văn C2 phạm tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ".

[2]. Về hình phạt:

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 356; Điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thành C 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo 02/02/2024.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 356; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Mai H2 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 356; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C2 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù; Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 579 Bộ luật dân sự. Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự.

Công nhận sự thỏa thuận giữa UBND xã X với các bị cáo Vũ Thành C, Trần Thị Mai H2 và Hoàng Văn C2 về việc:

  • - Ủy ban nhân dân xã X phải trả cho Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai số tiền 22.871.500 đồng (Hai mươi hai triệu tám trăm bẩy mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
  • - Ủy ban nhân dân xã X phải trả cho chị Lộc Thị T2 số tiền là 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  • - Trả lại cho bị cáo Vũ Thành C số tiền: 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng) từ số tiền bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục theo Biên lai tạm thu tiền số 0001022 ngày 28/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên.
  • - Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn C2 số tiền: 29.600.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng). Từ tài khoản của Công an huyện B, số tài khoản 8808203000010 tại Ngân hàng nông nghiệp huyện B, tỉnh Lào Cai.
  • - Trả lại cho bị cáo Trần Thị Mai H2 số tiền 89.400.000 đồng (T16 mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng). Trong đó số tiền 53.000.000 đồng (Năm mươi ba triệu đồng) trích từ số tiền bị cáo Vũ Thành C đã tác động đến gia đình khắc phục theo Biên lai tạm thu tiền số 0001022 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên. Số tiền 20.400.000 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng) được trích từ số tiền bị cáo Hoàng Văn C2 đã nộp tại tài khoản của Công an huyện B, số tài khoản 8808203000010 tại Ngân hàng nông nghiệp huyện B, tỉnh Lào Cai. Số tiền 16.000.000 đồng (Mươi sáu triệu đồng) được trích từ số tiền anh Hoàng Thanh B tự nguyện nộp theo Biên lai tạm thu tiền số 0001030 ngày 05/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên.

[4] Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

  • - Trả lại cho Q2 Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Trong đó số tiền 38.500.000 đồng (Ba mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) được trích từ tài khoản số 8808203000010 của Công an huyện B mở tại ngân hàng nông nghiệp huyện B và số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) được trích ra từ biên lai tạm thu tiền số 0001031 ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên.
  • - Trả lại cho chị Lộc Thị T2 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) ông Lừu Pao C4 đã tự nguyện giao nộp, hiện đang trong tài khoản số 8808203000010 của Công an huyện B mở tại Ngân hàng Nông nghiệp huyện B.

[5]. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí toà án.

Buộc các bị cáo Vũ Thành C, Trần Thị Mai H2 và Hoàng Văn C2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND huyện Bảo Yên;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
  • - Chi cục THADS huyện Bảo Yên;
  • - Công an huyện Bảo Yên;
  • - Bị cáo (03);
  • - Người liên quan (39):
  • - Lưu: Hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Mạnh Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thành Công, Trần Thị Mai Hương và Hoàng Văn Chuyên phạm tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger