Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/10/2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Duy Quyết.

Ông Hà Xuân Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 18 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lý Đức Thành N1, sinh năm 1994 là Luật sư – Trung tâm tư vấn pháp luật Đoàn luật sư tỉnh H – Địa chỉ: Số G đường T, phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

- Bị đơn: Anh Đoàn Hữu H, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình

Chị N, ông N1 có mặt; anh H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 6 năm 2024, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy N trình bày: Vợ chồng chị N anh H được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 18/01/2022, tại UBND phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam chỉ một thời gian ngắn thì anh H chuyển về sinh sống tại thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Do anh H làm công việc lái xe đường dài nên thường xuyên xa nhà cộng với việc vợ chồng sống mỗi người một nơi nên gần như hai vợ chồng không ở với nhau. Dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau dù khi gặp nhau hay qua điện thoại. Trong thời gian chị N mang thai và nuôi con nhỏ anh H không quan tâm, chăm sóc. Thực tế hai vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đoàn Hữu H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đoàn Linh C, sinh ngày 05/8/2023; hiện cháu đang ở cùng chị N. Khi ly hôn chị N đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N đề nghị anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con với số tiền là 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và công nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Thúy N giao nộp Phiếu lương tháng 8/2024 của Công ty TNHH K tại KCN Đ, P. B, Tx. Duy T, tỉnh Hà Nam xác nhận về nơi làm việc, mức thu nhập hiện tại của chị N.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt và thông báo hợp lệ văn bản tố tụng nhưng anh H đã không đến Tòa án làm việc.

Toà án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ xác định: anh Đoàn Hữu H có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; chị N và anh H có đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam, có 01 con chung là cháu Đoàn Linh C, sinh ngày 05/8/2023; hiện cháu đang ở cùng chị N. Anh H hiện đang làm nghề lái xe, có mức thu nhập ổn định hàng tháng nhưng không xác định được mức thu nhập cụ thể.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình 2014; khoản 3 Điều 4; khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy N; giao cháu Đoàn Linh C cho chị Nguyễn Thị Thúy N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; đồng thời yêu cầu anh Đoàn Hữu H cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi; thời điểm bắt đầu cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về tài sản chung, công nợ chung chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị N đồng ý với quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp đã trình bày, không bổ sung thêm nội dung nào khác.

Bị đơn anh Đoàn Hữu H vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn trình bày ý kiến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, các, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Xử cho chị Nguyễn Thị Thúy N được ly hôn anh Đoàn Hữu H; Về con chung: Giao cháu Đoàn Linh C, sinh ngày 05/8/2023 cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền từ 2.000.000 đồng đến 2.500.000 đồng, được quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung; chị N phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng; anh H phải nộp án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là anh Đoàn Hữu H có nơi cư trú tại: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Đoàn Hữu H. Anh Đoàn Hữu H vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.

Anh Đoàn Hữu H vắng mặt không có lý do lần thứ 2 tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Đoàn Hữu H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại kết hôn ngày18/01/2022, tại UBND phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Việc kết hôn của chị N, anh H đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Đoàn Hữu H là hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định quá trình chung sống chị N và anh H hạnh phúc được một thời gian đầu, rồi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H làm công việc lái xe đường dài nên thường xuyên xa nhà cộng với việc vợ chồng sống mỗi người một nơi nên gần như hai vợ chồng không ở với nhau. Dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau dù khi gặp nhau hay qua điện thoại. Trong thời gian chị N mang thai và nuôi con nhỏ anh H không quan tâm, chăm sóc. Thực tế hai vợ chồng đã sống ly thân, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Tòa án đã tống đạt theo quy định pháp luật cho anh H Thông báo thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng của Tòa án, đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án làm việc, hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng anh H vắng mặt, không tham gia các buổi làm việc, hòa giải. Như vậy, chứng tỏ anh H không có thiện chí, không hợp tác để Tòa án hòa giải mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Đoàn Hữu H đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy N.

[3]. Về con chung: Trên cơ sở trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ, xác định chị N anh H có một con chung là cháu Đoàn Linh C, sinh ngày 05/8/2023, hiện cháu C đang ở cùng chị N.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị N yêu cầu Tòa án tiếp tục giao cháu Đoàn Linh C cho chị trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục và yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy bản thân chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con, không vi phạm nghĩa vụ làm mẹ đối với con của mình, là người có đủ điều kiện sức khỏe, có khả năng tạo ra thu nhập và các điều kiện khác đảm bảo cho việc nuôi dạy con chung; cháu C còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Bản thân chị N cũng chăm sóc cho cháu rất tốt, đảm bảo các điều kiện cho cháu phát triển. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu C, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình cần giao cháu Đoàn Linh C cho chị Nguyễn Thị Thúy N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm giải quyết vụ án, trong đó có vấn đề nuôi con chung, tuy nhiên anh H không đến. Do vậy Tòa án không ghi nhận được quan điểm của anh H về vấn đề người trực tiếp nuôi con. Theo quy định của pháp luật, trong quá trình nuôi con, các bên khi đủ điều kiện thì không bị hạn chế quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, do vậy trường hợp anh H muốn thay đổi người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét theo quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng cho con: trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị N yêu cầu anh H cấp dưỡng với mức 5.000.000 đồng/ tháng, thực hiện từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án anh H không có mặt do vậy chị N và anh H không thỏa thuận được mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng. Chị N không cung cấp được tài liệu chứng minh mức thu nhập cụ thể của anh Đoàn Hữu H; quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác minh anh H có thu nhập ổn định nhưng không xác định được mức thu nhập cụ thể.

Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con, căn cứ Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, mức lương tối thiểu vùng tại khu vực huyện G, tỉnh Ninh Bình là 3.860.000 đồng/1 tháng, do vậy mức cấp dưỡng không thấp hơn 1.930.000 đồng.

Xét yêu cầu của chị N và quy định pháp luật, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, Hội đồng xét xử nhận định cần buộc anh Đoàn Hữu H phải cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Đ Linh C với số tiền là 2.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi hoặc đến khi thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật; việc cấp dưỡng được thực hiện từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4] Về tài sản và công nợ chung: chị N không đề nghị Tòa án giải quyết; anh H vắng mặt không có ý kiến gì vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết là phù hợp.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, anh Đoàn Hữu H phải chịu án phí sơ thẩm về cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị Thúy N được ly hôn với anh Đoàn Hữu H.
  2. Về con chung: Giao cháu Đoàn Linh C, sinh ngày 05/8/2023 cho chị Nguyễn Thị Thúy N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

    Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Về cấp dưỡng cho con: anh Đoàn Hữu H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng cho cháu Đoàn Linh C là 2.000.000 (hai triệu) đồng/1 tháng, việc cấp dưỡng thực hiện kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đoàn Linh C đủ 18 tuổi.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong,bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy N không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Đoàn Hữu H do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện Gia Viễn theo biên lai 0000997 ngày 25/6/2024.

    Anh Đoàn Hữu H phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - UBND phường Duy Hải, Thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yclh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger