Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 12 - 12 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lừ Văn Tuyên, ông Phạm Minh Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Vĩnh, bà Trần Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Vàng A C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 11/11/1986 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Bản Co Sung, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vàng A K, sinh năm 1967 và bà Hờ Thị D (Đã chết); vợ là Sồng Thị V, sinh năm 1986 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/5/2018 bị Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng (đã được xóa tiền sự); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn C1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/12/1972 tại huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; nơi ĐKNKTT: Tiểu khu C, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn L và bà Đặng Thị S (Đều đã chết); vợ là Quách Thị H, sinh năm 1970 và có 02 con (con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1998); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12/9/2023 bị UBND xã Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng kể từ ngày 12/9/2023; nhân thân: Tại Bản án Hình sự

số 09/HS-ST ngày 23/02/2000 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt bị cáo 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích. Tại Bản án Hình sự số 171/HSST ngày 22/6/2004 Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại Bản án Hình sự số 126/2006/HS-ST ngày 19/5/2006 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tại Bản án Hình sự số 138/2012/HSST ngày 04/4/2012 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Tại Bản án Hình sự số 26/2017/HSST ngày 20/11/2017 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Đều đã được xoá án tích); Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Vàng A C: Ông Nguyễn Bá L1 - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Quách Thị H, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Tiểu khu C, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 20 phút ngày 06/4/2024, tổ công tác Công an xã Đ, huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực bản Tự Nhiên, xã Đ, huyện M phát hiện Nguyễn Văn C1, sinh năm 1972, trú tại tiểu khu C, xã Đ, huyện M điều khiển xe máy biển kiểm soát 26G1-111.16 di chuyển theo hướng từ bản Co Sung đi bản Tự Nhiên, xã Đ, huyện M có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm. Tổ công tác yêu cầu C1 dừng xe kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện: Tại túi áo khoác ngoài bên trái C1 đang mặc 01 bọc nilon được quấn băng dính màu đen bên trong chứa 03 túi nilon (02 túi màu xanh, 01 túi màu hồng) đều chứa các viên nén màu hồng và 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất cục bột màu trắng. C1 khai nhận là ma túy Hồng phiến và H1 cất giữ nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn C1, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngoài ra Cơ quan Công an còn tạm giữ của Nguyễn Văn C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus, 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Dream II biển kiểm soát 26G1-111.16.

Hồi 22 giờ 25 phút ngày 06/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn C1, kết quả:

- Số viên nén màu hồng thu giữ trong 03 túi nilon (02 túi màu xanh, 01 túi màu hồng) có số lượng 588 viên, khối lượng 57,27 gam. Trích mỗi túi 05 viên, khối lượng 1,44 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, ký hiệu từ C1 đến C3.

- Chất cục bột màu trắng thu giữ trong gói nilon màu xanh có khối lượng 3,66 gam. Trích 0,17 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, ký hiệu C4.

Kết luận giám định số 854/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu C1, C2, C3 gửi giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là C1= 0,48 gam; C2= 0,48 gam; C3 = 0,48 gam. Mẫu ký hiệu C4 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 57,27 gam; loại Methamphetamine và 3,66 gam, loại Heroine”.

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 07/4/2024, tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại bản Co Sung, xã Đ, huyện M phát hiện Vàng A C, sinh năm 1986, trú tại địa chỉ trên có hành vi cất giữ trái phép 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 30 viên nén màu hồng, C khai nhận là Hồng phiến cất giữ để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vàng A C, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngoài ra Cơ quan Công an còn tạm giữ của Vàng A C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA.

Hồi 16 giờ 10 phút ngày 07/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M khám xét khẩn cấp nơi ở của Vàng A C, thu giữ: 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất cục bột màu trắng, 01 chiếc cân tiểu ly.

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 07/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định vật chứng thu giữ của Vàng A C, kết quả:

- 30 viên nén màu hồng có khối lượng 2,88 gam. Trích 05 viên khối lượng 0,48 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, ký hiệu C1.

- Chất cục bột màu trắng có khối lượng 8,59 gam. Trích 0,27 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, ký hiệu C2.

Kết luận giám định số 881/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam. Mẫu ký hiệu C2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin); khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,27 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,88 gam, loại Methamphetamine và 8,59 gam, loại Heroine”.

Quá trình điều tra Vàng A C và Nguyễn Văn C1 khai nhận:

Khoảng 08 giờ ngày 06/4/2024, Vàng A C đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Mông tự giới thiệu tên là T, sinh sống ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đến chơi. Qua trao đổi, T nói có ma tuý bán và hỏi C có muốn mua không. Do bản thân nghiện ma túy muốn mua về sử dụng và bán kiếm lời, C đồng ý và mua được của T 03 túi hồng phiến (02 túi màu xanh, 01 túi màu hồng) và 01 gói Heroine cuốn bằng nilon màu hồng với giá 5.000.000 đồng, do chưa đủ tiền nên Cải hẹn T chiều cùng ngày quay lại trả tiền sau, T nhất trí và đưa cho C thêm 01 túi nilon màu xanh và nói bên trong có 30 viên hồng phiến cho thêm, rồi đi về. Cải cất số ma túy mua được trong chiếc hòm gỗ đựng quần áo trong phòng ngủ.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, C nhận được điện thoại của bạn là Nguyễn Văn C1 hỏi mua ma túy Hồng phiến và H1. Cải nói hiện đang có 03 túi Hồng phiến và 01 gói Heroine, sẽ bán với giá 5.000.000 đồng, C1 đồng ý mua. Sau khi nói chuyện với C1, C mở hòm gỗ chứa ma túy lấy 03 túi nilon chứa Hồng phiến và chia gói Heroine thành 02 phần, phần ít hơn gói trong mảnh nilon màu xanh rồi dùng băng dính đen quấn chung 03 gói Hồng phiến để bán cho C1, số Heroine còn lại C dùng mảnh nilon màu hồng ban đầu cuốn lại cất vào trong hòm gỗ, gói Hồng phiến 30 viên được T cho thêm Cải cất trong túi áo ngực đang mặc. Khoảng 30 phút sau, C1 điều khiển xe máy biển kiểm soát 26G1-111.16 đến nhà gặp C, tại đây C đưa cho C1 gói ma tuý được cuốn bằng băng dính màu đen, C1 cất vào túi áo rồi lấy 5.000.000 đồng trả cho C. Sau khi mua được ma tuý, C1 điều khiển xe máy đi về, khi đến khu vực bản T, xã Đ, huyện M thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T quay lại nhà C lấy tiền bán ma tuý. Trong thời gian từ ngày 06/4 đến ngày 07/4/2024, C đã trích trong số ma túy mua được ra sử dụng khoảng 06 lần (cả Hồng phiến và H1). Khoảng 12 giờ ngày 07/4/2024, C mang theo túi ma túy Hồng phiến còn lại đi ra đường dân sinh bản Co Sung, xã Đ, mục đích nếu gặp ai hỏi mua thì bán thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng số ma tuý mang theo người. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M khám xét khẩn cấp nơi ở của Vàng A C, thu giữ số ma tuý Cải cất giấu trong hòm gỗ tại nhà.

Nguồn gốc 60,15 gam Methamphetamine và 12,25 gam Heroine, Vàng A C khai nhận mua được của một người đàn ông dân tộc Mông tự giới thiệu tên là T, sinh sống bên Lào, không rõ địa chỉ cụ thể. Do vậy ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không còn căn cứ mở rộng điều tra.

Tại Cáo trạng số 162/CT-VKS-P1 ngày 13/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Vàng A C về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn C1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Các bị cáo Vàng A C, Nguyễn Văn C1 nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, các bị cáo không khai báo gì thêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo Nguyễn Văn C1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng A C từ 17 đến 18 năm tù.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 từ 12 đến 13 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định; các mẫu test thử ma túy; 01 chiếc cân tiểu ly thu giữ khi khám xét chỗ ở của Vàng A C.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng kèm theo sim số 0985.516.609 thu giữ của Nguyễn Văn C1; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh kèm theo sim số 0392.172.896 thu giữ của Vàng A C.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Quách Thị H 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 26G1-111.16.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Vàng A C: Nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố. Bị cáo C là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý, am hiểu pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.

- Bị cáo Vàng A C nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận bổ sung, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo Nguyễn Văn C1 kính xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quách Thị H: Nhất trí với ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, kính xin Hội đồng xét xử cho chị được xin lại tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 26G1-111.16.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Ngày 06/4/2024, Nguyễn Văn C1 có hành vi mua trái phép 57,27 gam Methamphetamine và 3,66 gam Heroine của Vàng A C với giá 5.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng. Khi đang cất giấu trái phép chất ma tuý, trên đường di chuyển đến khu vực bản T, xã Đ, huyện M, Nguyễn Văn C1 bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Ngày 07/4/2024, tại khu vực bản C, xã Đ, huyện M, Vàng A C có hành vi cất giấu trái phép 2,88 gam Methamphetamine thì bị bắt quả tang; cùng ngày, Công an huyện M khám xét khẩn cấp tại nhà Cải thu giữ 8,59 gam Heroine. Số ma tuý trên Cải cất giấu nhằm mục đích sử dụng dần và bán kiếm lời.

Khối lượng ma tuý các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là: Nguyễn Văn C1: 57,27 + 3,66 = 60,93 gam. Vàng A Cải: 60,93 + 2,88 +8,59 = 72,4 gam.

Hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 20 phút ngày 06/4/2024 tại bản Tự Nhiên, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La đối với Nguyễn Văn C1 cùng vật chứng thu giữ.

- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 17 giờ 35 phút và hồi 18 giờ 00 phút ngày 06/4/2024 tại bản Tự Nhiên, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La, vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn C1.

- Biên bản mở niêm phong cân tịnhchứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn C1.

- Kết luận giám định số 854/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu C1, C2, C3 gửi giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là C1 = 0,48 gam; C2 = 0,48 gam; C3 = 0,48 gam. Mẫu ký hiệu C4 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 57,27 gam; loại Methamphetamine và 3,66 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 10 phút ngày 07/4/2024 tại bản Co Sung, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La đối với Vàng A C cùng vật chứng thu giữ.

- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 13 giờ 15 phút ngày 07/4/2024 tại bản Co Sung, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La, vật chứng thu giữ của Vàng A C.

- Biên bản khám xét hồi 16 giờ 10 phút ngày 07/4/2024 tại bản Co Sung, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La đối với chỗ ở của Vàng A C, kèm theo sơ đồ vị trí thu giữ vật chứng khám xét Vàng A C và 03 ảnh chụp.

- Biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng thu giữ của Vàng A C.

- Kết luận giám định số 881/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam. Mẫu ký hiệu C2 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,27 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,88 gam, loại Methamphetamine và 8,59 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc khi bị bắt quả tang Nguyễn Văn C1 và Vàng A C; phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Vàng A C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với các bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Vàng A C đã thực hiện hành vi bán trái phép cho Nguyễn Văn C1 57,27 gam Methamphetamine và 3,66 gam Heroine. Ngoài ra thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà ở V 2,88 gam Methamphetamine; 8,59 gam Heroine. Tổng khối lượng ma tuý các loại Vàng A C phải chịu trách nhiệm hình sự là 72,4 gam, vi phạm tình tiết định khung “Heroine, C2, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam”, “Có hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.

Bị cáo Nguyễn Văn C1 đã thực hiện hành vi mua của Vàng A C 57,27 gam Methamphetamine và 3,66 gam Heroine, tổng khối lượng ma túy các loại là 60,93 gam mục đích để sử dụng, vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Heroine, C2, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam”, “Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tiền sự: Bị cáo Nguyễn Văn C1: Ngày 12/9/2023 bị UBND xã Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng kể từ ngày 12/9/2023.

Nhân thân:

Bị cáo Nguyễn Văn C1 có nhân thân xấu, đã 05 lần bị Toà án kết án (đều đã được xoá án tích):

  • + Bản án số 09/HS-ST ngày 23/02/2000 của TAND huyện Mộc Châu áp dụng khoản 1 Điều 205, khoản 1 Điều 109 BLHS năm 1985, xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích. Bồi thường cho anh Nguyễn Văn S1 1.000.000 đồng, án phí HSST 50.000 đồng, án phí DSST 50.000 đồng;
  • + Bản án số 171/HSST ngày 22/6/2004 của TAND tỉnh Sơn La áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm o, p, q khoản 1 Điều 46, 47, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 xử phạt 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Án phí HSST 50.000 đồng. Đã nộp án phí ngày 26/4/2006;
  • + Bản án số 126/2006/HS-ST ngày 19/5/2006 của TAND huyện Mộc Châu, áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999, xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Án phí HSST 50.000 đồng. Đã nộp án phí ngày 05/7/2006;
  • + Bản án số 138/2012/HSST ngày 04/4/2012 của TAND huyện Mộc Châu, áp dụng điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 175, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, khoản 3 Điều 30 BLHS năm 1999, xử phạt 12 tháng tù về tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Phạt tiền 2.000.000 đồng. Án phí HSST 200.000 đồng. Đã nộp án phí ngày 16/5/2012. Nộp xong hình phạt tiền ngày 20/11/2014;
  • + Bản án số 26/2017/HSST ngày 20/11/2017 của TAND huyện Mộc Châu, áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999, xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Án phí HSST 200.000 đồng. Đã nộp án phí ngày 03/01/2018. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2019.

Bị cáo Vàng A C có nhân thân xấu: Ngày 23/5/2018 bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng (đã được xóa tiền sự).

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt:

Bị cáo Vàng A C và bị cáo Nguyễn Văn C1 đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhưng do hám lời, bị cáo Vàng A C đã có hành vi mua bán trái phép tổng khối lượng 72,4 gam ma tuý các loại; bị cáo Nguyễn Văn C1 đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 60,93 gam ma tuý các loại.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Vàng A C thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C1 thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn khác trong xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp và tương xứng với khối lượng ma tuý, nhân thân, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà các bị cáo thực hiện.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản giá trị, bị cáo Vàng A C là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về đối tượng có liên quan:

Nguồn gốc 60,15 gam Methaphetamine và 12,25 gam Heroine, Vàng A C khai nhận mua được của một người đàn ông dân tộc Mông tự giới thiệu tên là T, sinh sống ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, không rõ địa chỉ cụ thể. Do vậy, ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không còn căn cứ để mở rộng điều tra.

[8] Về xử lý vật chứng, tài sản:

Đối với số ma túy còn lại sau khi đã trích mẫu giám định của các bị cáo gồm: 55,83 gam Methamphetamine và 3,49 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong, thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C1; 2,4 gam Methamphetamine và 8,32 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong, thu giữ của bị cáo Vàng A C; các mẫu test thử ma túy của các bị cáo và 01 chiếc cân tiểu ly thu giữ khi khám xét chỗ ở của Vàng A C. Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại thu giữ của Vàng A C; 01 (một) chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn C1. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại nêu trên là tài sản của các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA- Dream II, màu sơn nâu, BKS 26G1 - 11116; số máy HA08E-1646203; số khung: RLHHA0802AY346137, xe cũ đã qua sử dụng. Giấy tờ xe mang tên chị Quách Thị H, quá trình bị cáo Nguyễn Văn C1 thực hiện hành vi phạm tội, chị H không biết, không tham gia. Do đó, cần trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quách Thị H.

[9] Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo Vàng A C là dân tộc thiểu số thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Căn cứ Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng A C 17 (Mười bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 07/4/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2.2. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 06/04/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Vật chứng còn lại vụ Nguyễn Văn C1 bắt ngày 06/4/2024 (573 viên =55,83 gam; 3,49 gam cục chất bột màu trắng, 01 túi nilon màu hồng, 02 túi nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu xanh, phong bì niêm phong ban đầu)”. Tại mép dán của mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số: 076673, phần dán giáp lai giữa giấy niêm phong và phong bì có đầy đủ chữ ký của thành phần tham gia niêm phong, chữ ký của người bị bắt, 03 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và dán một lớp băng dính màu trắng lên trên.

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi "Vật chứng vụ Vàng A C. Bắt ngày 07/4/2024 (01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong đựng 25 viên=2,40 gam; 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong đựng 8,32 gam chất bột màu trắng cùng vỏ gói niêm phong ban đầu (01 túi nilon màu xanh, mảnh nilon màu hồng, hai phong bì)”. Tại mép dán của mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số: 075110, phần dán giáp lai giữa giấy niêm phong và phong bì có đầy đủ chữ ký của thành phần tham gia niêm phong điểm chỉ của người bị bắt, 03 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và dán một lớp băng dính màu trắng lên trên.

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Test thử ma túy đối với Nguyễn Văn C1, ngày 06/4/2024. Kết quả: Dương tính. Tại mép dán của mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La hồi 20 giờ 30 phút, ngày 06/4/2024, phần dán giáp lai giữa giấy niêm phong và phong bì có đầy đủ chữ ký của thành phần tham gia niêm phong, chữ ký của người được xét nghiệm, Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La và dán một lớp băng dính màu trăng lên trên.

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi "Test thử ma túy của Vàng A C ngày 07/4/2024; Kết quả: Dương tính. Tại mép dán của mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số: 076674, phần dán giáp lai giữa giấy niêm phong và phong bì có đầy đủ chữ ký của thành phần tham gia niêm phong, điểm chỉ của người được xét nghiệm, 03 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và dán một lớp băng dính màu trắng lên trên.

- 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong đựng 01 (một) chiếc cân tiểu ly (cũ) đã qua sử dụng.

3.2 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi "01 (một) chiếc điện thoại di động NOKIA thu giữ của Vàng A C ngày 07/4/2024". Tại mép dán của mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số: 075109, phần dán giáp lai giữa giấy niêm phong và phong bì có đầy đủ chữ ký của thành phần tham gia niêm phong, điểm chỉ của người bị bắt, 03 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và dán một lớp băng dính màu trắng lên trên.

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “01 chiếc điện thoại di động IPHONE 7 PLUS thu giữ đối với Nguyễn Văn C1, ngày 06/4/2024”. Tại mép dán của mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số: 076970, phần dán giáp lai giữa giấy niêm phong và phong bì có đầy đủ chữ ký của thành phần tham gia niêm phong, chữ ký của người bị bắt, 03 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và dán một lớp băng dính màu trắng lên trên.

3.3 Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Quách Thị H:

01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Dream II, màu sơn nâu, biển kiểm soát 26G1-111.16; số máy HA08E-1646203; số khung: RLHHA0802AY346137, xe cũ đã qua sử dụng. (đã được niêm phong theo quy định của pháp luật)

(Hiện trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản theo Biên bản về việc giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 12/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A C.

Bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/12/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Phòng PC04 - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuấn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy/ 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger