Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BỈM SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/12/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Thoa;

Bà Nguyễn Thị Hường.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 về “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 23/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/11/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1980.

Số căn cước công dân: [...].

Nơi thường trú: Khu phố S, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn K, sinh năm 1981.

Số căn cước công dân: [...]

Nơi thường trú: Khu phố S, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị D, vắng mặt anh K không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, được bổ sung tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn K kết hôn với nhau năm trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2001. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, ngoài ra anh K còn không tu chí làm ăn, hay chơi bài bạc và thường có hành vi chửi bới, đánh đập vợ con. Mâu thuẫn của vợ chồng chị căng thẳng nhất từ đầu năm 2024, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được chính quyền địa phương hoà giải nhưng không có kết quả. Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung là cháu Vũ Thị Thùy L (giới tính nữ), sinh ngày 02/6/2002, cháu Vũ Thị Minh N (giới tính: nữ), sinh ngày 02/6/2009 và cháu Vũ Quỳnh A (giới tính: nữ), sinh ngày 18/6/2020. Hiện nay cháu L đã thành niên nên chị D không yêu cầu Toà án giải quyết. Ly hôn chị D đề nghị Toà án giao cháu N và cháu Quỳnh A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị. Kể từ khi anh chị sống ly thân cho đến nay, cháu N và cháu Quỳnh A vẫn do chị chăm sóc và nuôi dưỡng đảm bảo tốt về mọi mặt, anh K không cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng với chị. Chị là lao động tự do nhưng có thu nhập ổn định mỗi tháng khoảng từ 10.000.000 đồng và có chỗ ở ổn định.

Về tài sản, công nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy triệu tập, quyết định tố tụng cho anh Vũ Văn K nhưng anh K không có mặt tại Tòa án để làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, chị D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, việc Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Bị đơn là anh Vũ Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh K.

[3] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Vũ Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn của anh chị căng thẳng nhất từ đầu năm 2024, chị D và anh K đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Anh Khoa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh K đã không tham gia phiên họp chứng tỏ anh cũng không tha thiết hòa giải để đoàn tụ gia đình. Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh K không còn, tại phiên tòa chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K. Thu thập chứng cứ tại địa phương phản ánh: quá trình chị D và anh K sinh sống tại địa phương vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy mâu thuẫn của chị D và anh K đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, cho chị được ly hôn anh K là có căn cứ.

[4]. Về con chung: Chị D và anh K có ba con chung là cháu Vũ Thị Thùy L (giới tính nữ), sinh ngày 02/6/2002, cháu Vũ Thị Minh N (giới tính: nữ), sinh ngày 02/6/2009 và cháu Vũ Quỳnh A (giới tính: nữ), sinh ngày 18/6/2020. Hiện nay cháu L đã thành niên nên chị D không yêu cầu Toà án giải quyết. Ly hôn chị D đề nghị Toà án giao cháu N và cháu Quỳnh A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị. Xét thấy kể từ khi chị D và anh K sống ly thân cho đến nay, cháu N và cháu Quỳnh A sống cùng với mẹ, chị D vẫn nuôi dạy, chăm sóc cháu bảo đảm tốt về mọi mặt. Hiện nay chị D có thu nhập và chỗ ở ổn định. Cháu N có nguyện vọng được ở với mẹ. Tòa án đã triệu tập anh K để lấy lời khai về việc tranh chấp nuôi con cũng như triệu tập anh K đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải, phiên toà tuy nhiên anh K không có mặt để làm việc, cũng không có văn bản ý kiến trình bày gửi cho Tòa án. Vì vậy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, cháu Quỳnh A và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung của chị D có cơ sở để chấp nhận, phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5]. Về tài sản, công nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6]. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị D được ly hôn anh Vũ Văn K.

Về con chung: Chị D và anh K có ba con chung là cháu Vũ Thị Thùy L (giới tính nữ), sinh ngày 02/6/2002, cháu Vũ Thị Minh N (giới tính: nữ), sinh ngày 02/6/2009 và cháu Vũ Quỳnh A (giới tính: nữ), sinh ngày 18/6/2020. Hiện nay cháu L đã thành niên nên chị D không yêu cầu Toà án giải quyết. Ly hôn giao cháu N và cháu Quỳnh A cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị D.

Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị D đã nộp theo biên lai số 0004631 ngày 30/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá, chị D đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TX Bỉm Sơn;
  • - Chi cục THADS TX Bỉm Sơn Thanh Hóa;
  • - UBND P. Lam Sơn, TX Bỉm Sơn (ĐK 2001);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Duyên khởi kiện ly hôn Vũ Văn Khoa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger