Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 29 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Văn Chiên;
  2. Ông Ngô Văn Thế.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Sùng A L, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/02/1974, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Sùng A T, sinh năm 1952; mẹ đẻ: Giàng Thị S, sinh năm 1954; Vợ: Giàng Thị B, sinh năm 1977; bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Cứ A D2, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/01/1991, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản L, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Cứ A S1, sinh năm 1966; mẹ đẻ: Sùng Thị D, sinh năm 1971; từ năm 2010 đến năm 2021, bị cáo chung sống như vợ chồng nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Cứ A D2 bị xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Cứ A S5, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 29/4/2005, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản L, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi ở trước khi bị bắt: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Cứ A, đã chết; mẹ đẻ: Sùng Thị S2, sinh năm 1979; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nông Thị Minh H, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Cứ A S3, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản L, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ, ngày 13/6/2024, tại đoạn đường thuộc bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Sùng A L mua được 01 gói Heroine giá 100.000 đồng, của một người phụ nữ không rõ lai lịch cụ thể, mục đích L mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Mua được H1, L lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít, số Heroine còn lại, L chia thành 06 gói nhỏ, mỗi gói đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh, rồi cất giấu không cho ai biết.

Khoảng 12 giờ, ngày 13/6/2024, Cứ A D2 sang nhà Cứ A để nhờ S5 chở đi mua gạo, S5 đồng ý. Sèn điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-757.31 chở D2 đi mua gạo. Trên đường đi, D2 bảo S5 chở D2 đi đến bản T, xã M để mua Heroine để sử dụng, S5 đồng ý. Khi S5 chở D2 đến gần nhà Sùng A L, D2 bảo S5 dừng xe lại và đứng ở ngoài đường đợi Da, còn một mình D2 đi vào nhà L hỏi mua Heroine. Khoảng 16 giờ cùng ngày, tại nhà L, D2 mua được của Lùng 06 gói Heroine hết 02 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 50 Nhân dân tệ (tương đương 334.377 đồng Việt Nam). Đến khoảng 19 giờ, cùng ngày, L cầm 02 tờ tiền Trung Quốc đi sang nhà em trai ruột là Sùng A S4, Sùng tặng 02 tờ tiền mừng sinh nhật con trai của S4 nhưng không nói cho S4 biết nguồn gốc là do bán Heroine mà có. Cứ A D2 sau khi mua được Heroine của L thì đi ra ngoài sử dụng hết 03 gói trong số 06 gói Heroine mua được của Lùng bằng hình thức chích. Sử dụng xong, D2 quay lại gặp S5 rồi cả hai cùng đi về. Trên đường về, D2 và S5 sử dụng hết 01 gói bằng hình thức hít, còn 02 gói Da cất giấu trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người. Hồi 17 giờ 00 phút, cùng ngày13/6/2024, khi Cứ A D2, Cứ A đi đến bản M, xã M, huyện P thì bị Công an xã M phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng là 02 gói chất bột màu trắng, đều được gói ngoài bằng nilon màu xanh và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-757.31.

Căn cứ lời khai của Cứ A D2, Cơ quan điều tra tiên hành khám xét nơi ở, giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Sùng A L, triệu tập Sùng A S4 đến làm việc. Sùng A L đã khai nhận toàn bộ sự việc đã bán trái phép Heroine cho Cứ A D2.

Vật chứng đã thu giữ: Thu của Cứ A S4: 02 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 50 Nhân dân tệ, S4 khai đây là tiền do Sùng A L tặng sinh nhật con trai của S4. Sùng A L khai nhận 02 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 50 Nhân dân tệ chính là tiền Lùng bán trái phép Heroine cho Cứ A D2. Thu của Cứ A D2, Cứ A: 02 gói chất bột màu trắng, đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh. Thu của Cứ A S5: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-757.31, kèm theo chìa khóa xe.

Tại bản Kết luận giám định số: 04/LK-GĐVV, ngày 13/6/2024, của người giám định theo vụ việc, kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Cứ A D2, Cứ A S5 có tổng khối lượng là 0,181 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 761/KL-TTHS, ngày 17/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại Heroine. Bản Kết luận giám định số: 4698/KL-TTHS, ngày 28/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 02 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 50 Nhân dân tệ gửi giám định là các tờ tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số: 98/CT-VKS, ngày 07/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Sùng A L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251, của Bộ luật Hình sự, truy tố các bị cáo Cứ A D2, Cứ A S5 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Sùng A L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251, của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Cứ A, Cứ A S5 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A L mức hình phạt từ 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cứ A D2 mức hình phạt từ 01 (Một) năm, 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cứ A S5 mức hình phạt từ 01 (Một) năm, 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu số tiền 100.000NDT thu của bị cáo Sùng A L, quy đổi sang tiền Việt Nam để nộp ngân sách Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy các mảnh nilon và các vỏ niêm phong. Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ của các bị cáo D2, S5 đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, không đề cập xử lý. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cứ A S3 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-757.31. Về luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Sùng A L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Cứ A D2, Cứ A S5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 98/CT-VKS, ngày 07/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Tình tiết có liên quan trong vụ án:

Nguồn gốc ma túy, bị cáo Sùng A L khai mua của một người không rõ lai lịch, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ.

Số tiền 100 Nhân dân tệ Trung Quốc mà Cứ A D2 dùng để mua Heroine. Quá trình điều tra xác định đây là tiền do bà Sùng Thị D (mẹ đẻ D2) làm thuê bên Trung Quốc mà có, bà D đưa cho D2 đi mua gạo, bà D không biết việc D2 sử dụng để đi mua ma tuý nên bà D không đồng phạm với D2.

Đối với ông Sùng A S4 đã nhận 100 Nhân dân tệ Trung Quốc từ Sùng A L, khi nhận tiền, Sùng A S4 không biết đây là tiền do L bán Heroine mà có nên Sùng A S4 không phạm tội.

Đối với anh C A S3 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-757.31. Quá trình điều tra xác định, anh S3 cho C A D2 mượn xe để đi mua gạo, anh S3 không biết việc bị cáo S5 sử dụng xe chở D2 đi mua ma tuý sử dụng nên anh S3 không đồng phạm với D2, S5.

Quá trình điều tra, Cứ A D2 còn khai nhận trước khi bị bắt khoảng 01 tháng, D2 đã một lần mua của Sùng A L 01 gói Heroine giá 100.000 đồng và đã sử dụng hết. Tuy nhiên, qua lời khai của L và đối chất giữa D2 và L thì L không thừa nhận việc đã bán Heroine cho D2 vào tháng trước đó. Ngoài lời khai của Da, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có đủ căn cứ khẳng định Lùng đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho D2.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo D2 đã khai ra hành vi phạm tội của bị cáo L, giúp cơ quan điều tra phát hiện ra tội phạm nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo Sùng A L, Cứ A S5 phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Cứ A D2 đã 01 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh cho bản thân mà bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội.

các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Các bị cáo Cứ A D2, Cứ A S6 là đồng phạm trong vụ án, bị cáo D2 là người giữ vai trò chính, trực tiếp mua và cất giấu Heroine, S5 là người giúp sức cho D2 thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa về mức hình phạt đối với bị cáo Sùng A L là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận; về đề nghị quyết định hình phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt đối với các bị cáo Cứ A D2, Cứ A là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo có nghề nghiệp làm ruộng và làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Số tiền 100.000NDT thu của bị cáo Sùng A L, là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần quy đổi sang tiền Việt Nam để nộp ngân sách Nhà nước. 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-757.31, là tài sản thuộc sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cứ A S3, do anh S3 không biết việc các bị cáo sử dụng xe làm công cụ, phương tiện phạm tội, anh S3 có nguyện vọng được nhận lại tài sản nên cần trả lại tài sản cho anh S3. Đối với các mảnh nilon và các vỏ niêm phong đều là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ của các bị cáo D2, S5 đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, Hội đồng xem xử không xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  1. Bị cáo Sùng A L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

    Các bị cáo Cứ A D2, Cứ A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cứ A D2: 01 (Một) năm, 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cứ A S5: 01 (Một) năm, 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Số tiền 100.000 Nhân dân tệ thu của bị cáo Sùng A L, được quy đổi sang tiền Việt Nam để nộp ngân sách Nhà nước.

    Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cứ A: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-757.31.

    Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu xanh, các vỏ gói niêm phong.

    (Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi: 09 giờ 40 phút, ngày 14/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh lai Châu).

  4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thổ
  • (CQĐT, THAHS, Nhà Tạm giữ);
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo mua bán, tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger