|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2024/HSST-NCTN Ngày: 28 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhum
Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Diệu - Giáo viên nghỉ hưu
Ông Trương Thanh Tuyết Bà Trần Thị Thìn
Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chí Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Thạch Kim Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS-NCTN ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Võ Thanh T (tên gọi khác: Võ Thành T1, C), sinh ngày 15/01/2010 tại tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con bà Võ Thị Ngọc O, sinh năm 1990, không xác định được bố ruột; bị cáo có 01 người em sinh năm 2016; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2024 cho đến nay. Bị cáo mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Võ Thanh T: Bà Võ Thị Ngọc O, sinh năm 1990, Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (có mặt).
- Người bào chữa của bị cáo Võ Thanh T: Ông Phạm Văn H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
- Bị hại: Cháu Võ Thị Thùy L, sinh ngày 02/12/2014; hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Thị Thùy L: Bà Phạm Thị Ngọc Đ, sinh năm 1996 và ông Võ Văn T2, sinh năm 1990; cùng hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (đều có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại Võ Thị Thùy L: Ông Nguyễn Nghi K - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1966, Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (có mặt);
2. Ông Võ Thành T3, sinh năm 1994, Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Thanh T là anh họ của cháu Võ Thị Thùy L (tên thường gọi là M), mẹ của bị cáo T là chị ruột bố cháu L, còn bị cáo Triệu sống cùng bà ngoại là bà Trần Thị H1 cách nhà cháu L 10m.
Khoảng 15 giờ ngày 28/4/2024, T đến nhà cháu L chơi, thấy cháu L nằm một mình trong phòng ngủ còn 2 người em của cháu L là Võ Văn T4, sinh ngày 22/12/2016 và Võ Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 15/8/2021 nằm ngủ ngoài phòng khách. Do đã xem phim người lớn quan hệ tình dục trên mạng xã hội nên T nảy sinh ý định giao cấu với cháu L. Bị cáo T nói với cháu L “chơi đút cu vào chim không”, cháu L trả lời “không” nên bị cáo T nói “làm nhanh không tao đánh”. Sợ bị cáo T đánh nên cháu L đứng dậy tự cởi quần ra, Triệu tự cởi quần của mình ra rồi nói cháu L nằm ngửa trên tấm vải để trên nền nhà rồi T nằm úp lên người cháu L, T nói cháu L cầm dương vật của T đưa vào âm hộ của cháu L. Do không đưa dương vật vào được nên T nói cháu L nhổ nước bọt ra tay rồi xoa vào đầu dương vật để bôi trơn rồi T đưa dương vật vào trong âm hộ cháu L. Lúc này, T nghe ở bên ngoài có tiếng của G (Gôn là bạn của T, không rõ nhân thân lai lịch) gọi “Triệu ơi T”, sợ bị phát hiện nên T đứng dậy mặc quần rồi đi ra ngoài rồi cùng G đi chơi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, chị Phạm Thị Ngọc Đ đi làm về thấy cháu L khóc và nói đau bụng, chị Đ kiểm tra thấy âm hộ của cháu L bị chảy máu nên chị Đ và chồng là anh Võ Văn T2 đưa cháu L đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B cấp cứu rồi chuyển đến Bệnh viện N tại Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Sau khi biết cháu L bị T xâm hại tình dục, anh T2 gọi điện thoại cho em trai là Võ Thành T3 kêu đi tìm T rồi đưa đến Công an xã B đầu thú. Cháu L điều trị thương tích đến ngày 06/5/2024 xuất viện.
Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 187/KLTDTE-TTPY ngày 24/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận:
- Màng trinh giãn, đường kính khoảng 1,2cm, có vết rách cũ ở vị trí 3 giờ, 6 giờ và 9 giờ; không bầm tím, không xung huyết.
- Tầng sinh môn: Rách ở vị trí 6 giờ, dài 2cm, còn chỉ khâu.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Thị Thùy L tại thời điểm giám định là 01%.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã thu giữ của gia đình ông Võ Văn T2, bà Phạm Thị Ngọc Đ gồm: 01 võng cước màu xanh; có kẻ sọc màu xanh, vàng, đỏ; võng kích thước (1,8x0,75)m; ở hai đầu võng có 02 sợi dây dù dài 0,98m và 0,93m, bản rộng 1,5cm; 01 cây lau nhà, cán bằng kim loại màu trắng dài 1,04m, đường kính 2,5cm, bề mặt cây lau nhà gồm nhiều sợi vải tròn màu đen; 01 quần vải và ống dài, kích thước (0,4x0,36)m, quần có nền màu vàng, trên quần có nhiều hoa văn tròn nhiều màu và nhiều hình con thú; 01 chăn lông màu xám kích thước (2x1,44) m. Bị cáo Võ Thanh T giao nộp: 01 áo thun màu đen, có cổ, tay áo ngắn, trên cổ áo ghi chữ BILUXURY; 01 quần lót, màu đen, trên quần có chữ RARMOUR; 01 quần kaki lửng, màu đen, kích thước (0,5x0,19)m.
Tại Cáo trạng số 40/CT-VKSBP-P2 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Võ Thanh T về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm c khoản 3 Điều 142 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu nhận lại tài sản đã thu giữ của bị cáo.
Đại diện hợp pháp của cháu Võ Thị Thùy L xác định sau khi sự việc xảy ra, mẹ bị cáo có đưa cho gia đình bị hại 2.000.000 đồng để hỗ trợ phục hồi sức khỏe; gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường tiếp và xin giảm hình phạt cho bị cáo; gia đình bị hại không yêu cầu nhận lại những vật dụng đã bị thu giữ trong quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố, khẳng định việc truy tố là đúng người, đúng tội. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 142, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 10 đến 12 năm tù.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo như không có sự chăm sóc của bộ mẹ, trình độ thấp; bị cáo là người vừa đủ 14 tuổi nên tâm sinh lý chưa hoàn thiện, nhận thức cần hạn chế; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại và bị cáo được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát, tuy bị cáo lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại để thực hiện hành vi tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe danh dự, nhân phẩm của bị hại, ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa phương, nhưng bị cáo và bị hại có quan hệ gia đình, bị cáo cũng có nhận thực thấp và gia đình bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã xác định. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 15 giờ ngày 28/4/2024, khi bị cáo T đến nhà cháu L chơi. Do đã xem phim người lớn quan hệ tình dục trên mạng xã hội nên T nảy sinh ý định giao cấu với cháu L để thỏa mãn ham muốn. Thực hiện ý định, bị cáo rủ bị hại thực hiện hành vi giao cấu nhưng bị hại không đồng ý nên bị cáo đã đe dọa, cưỡng ép bị hại làm bị hại phải thực hiện hành vi giao cấu với bị cáo. Khi bị cáo đang thực hiện hành vi thì có bạn đến tìm nên bị cáo đã không tiếp tục thực hiện hành vi đến cùng. Khi bị cáo giao cấu với bị hại thì cháu mới có 09 tuổi 04 tháng 26 ngày nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Võ Thanh T về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là "đối với người dưới 10 tuổi" theo quy định điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Bị cáo Võ Thanh T thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng với với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em. Trong khi thực hiện tội phạm, bị cáo Võ Thanh T là người chưa thành niên nhưng bị cáo hoàn toàn nhận thức rõ hành vi xâm hại tình dục với cháu L khi cháu chưa đủ 10 tuổi là phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Võ Thanh T đã lợi dụng bị hại còn nhỏ tuổi, chưa biết cách tự bảo vệ mình, dễ bị tổn thương, khả năng nhận thức kém, không am hiểu pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu L nhằm thoả mãn nhu cầu sinh lý của bản thân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo Võ Thanh T một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Khi thực hiện tội phạm, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo đã bồi thường, khắc phục một phần hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, gia đình bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo; bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên, trình độ học vấn thấp, bị cáo phạm tội lần đầu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có hai tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để cho thấy sự khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đời sống xã hội. Đồng thời, do bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên được áp dụng các quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự để xem xét, quyết định hình phạt.
[5] Trong quá trình điều tra, bị cáo Võ Thanh T đã khai nhận quan hệ tình dục với cháu L tất cả 02 lần, cụ thể: 01 lần vào ngày 28/4/2024 và 01 lần vào khoảng giữa năm 2023, cả 02 lần bị cáo quan hệ tình dục với cháu L đề tại nhà cháu L. Cháu L cũng thừa nhận việc bị cáo Võ Thanh T trước đây đã thực hiện hành vi quan hệ với cháu L. Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2023 bị cáo T chưa đủ 14 tuổi (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước không đề cập xử lý là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, mẹ bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 2.000.000 đồng và gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Cơ quan điều tra đã thu giữ của gia đình bị hại: 01 võng cước màu xanh; có kẻ sọc màu xanh, vàng, đỏ; võng kích thước (1,8x0,75)m; ở hai đầu võng có 02 sợi dây dù dài 0,98m và 0,93m, bản rộng 1,5cm; 01 cây lau nhà, cán bằng kim loại màu trắng dài 1,04m, đường kính 2,5cm, bề mặt cây lau nhà gồm nhiều sợi vải tròn màu đen; 01 quần vải và ống dài, kích thước (0,4x0,36)m, quần có nền màu vàng, trên quần có nhiều hoa văn tròn nhiều màu và nhiều hình con thú; 01 chăn lông màu xám kích thước (2x1,44)m; thu giữ của bị cáo: 01 áo thun màu đen, có cổ, tay áo ngắn, trên cổ áo ghi chữ BILUXURY; 01 quần lót, màu đen, trên quần có chữ RARMOUR; 01 quần kaki lửng, màu đen, kích thước (0,5x0,19)m. Những vật chứng này không còn giá trị sử dụng và gia đình bị hại, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[9] Quan điểm của người bào chữa của bị cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo là trẻ em phạm tội nên được Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 50, 54, 90, 91, 98, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Xử phạt bị cáo Võ Thanh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 4 năm 2024.
- Áp dụng các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Tịch thu tiêu hủy: 01 võng cước màu xanh; có kẻ sọc màu xanh, vàng, đỏ; võng kích thước (1,8x0,75)m; ở hai đầu võng có 02 sợi dây dù dài 0,98m và 0,93m, bản rộng 1,5cm; 01 cây lau nhà, cán bằng kim loại màu trắng dài 1,04m, đường kính 2,5cm, bề mặt cây lau nhà gồm nhiều sợi vải tròn màu đen; 01 quần vải và ống dài, kích thước (0,4x0,36)m, quần có nền màu vàng, trên quần có nhiều hoa văn tròn nhiều màu và nhiều hình con thú; 01 chăn lông màu xám kích thước (2x1,44)m; 01 áo thun màu đen, có cổ, tay áo ngắn, trên cổ áo ghi chữ BILUXURY; 01 quần lót, màu đen, trên quần có chữ RARMOUR; 01 quần kaki lửng, màu đen, kích thước (0,5x0,19)m. (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0000395, quyển số 0008 ngày 24/10/2024 giữa Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước).
- Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự cho bị cáo.
- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Thị H1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Võ Thành T3 vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Nhum |
Bản án số 19/2024/HSST-NCTN ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Số bản án: 19/2024/HSST-NCTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: võ thanh triệu 142
