TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HSST
Ngày 19-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Độ.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Mạnh Cường và bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên tham gia phiên toà: ông Vi Đức Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xử án Toà án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn D, sinh ngày 03/11/1990, tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C và bà Nịnh Thị Q; có vợ (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 05/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt.
- Bị hại:
Anh Chìu Chăn P, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.
Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
*. Người làm chứng:
- Chị Chìu Tài M, sinh năm 1995.
- Anh Chìu A S (Tên gọi khác S1), sinh năm 1992.
- Anh Voòng A Ử, sinh năm 1989.
- Anh Hoàng Văn M1, sinh năm 1971.
Nơi cư trú: thôn T, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
Nơi cư trú: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh.
Có mặt.
Nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.
Có mặt.
Nơi cư trú: khu F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.
Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hoàng Văn D và chị Chìu T Múi có quan hệ bạn bè với nhau. Do cần tiền để tiêu sài, tháng 9 năm 2022 bị cáo D đã liên hệ qua tài khoản facebook với một người không quen biết, đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 237372 (gọi tắt là Giấy chứng nhận BP 237372) mang tên Hoàng Văn D cấp ngày 15/7/2022 tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 86, địa chỉ: khu F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, nơi D đang ở nhằm mục đích đưa cho ông Chìu Chăn P (là bố đẻ chị M) để làm tin vay tiền, cụ thể:
Ngày 12/9/2022, tại số nhà B, phố H, thị trấn T, huyện T (nhà do chị M thuê), D đã đưa Giấy chứng nhận BP 237372 cho chị M xem để chị M nói lại với ông P cho D vay tiền. Sau đó ông P đã nhờ chị M đưa trước cho D số tiền 67.000.000 đồng.
Tiếp đến ngày 13/9/2022 cũng tại số nhà nêu trên, D đưa Giấy chứng nhận BP 237372 cho ông P và viết Giấy cầm sổ đỏ quyền sử dụng đất, sau đó ông P nhờ chị Chìu Thị H (là con gái ông P) chuyển qua tài khoản Ngân hàng cho D số tiền 83.000.000 đồng.
Đến ngày 01/10/2022, cũng tại số nhà B, phố H, thị trấn T, huyện T, D tiếp tục sử dụng Giấy chứng nhận BP 237372 đã đưa cho ông P làm tin để vay số tiền 50.000.000 đồng, lần vay tiền này D đã tự ghi và ký nhận vào mặt sau Giấy cầm sổ đỏ quyền sử dụng đất.
Tổng số 03 lần vay là 200.000.000 đồng, toàn bộ số tiền vay được của ông P, D đã cho bạn là Voòng A Ử vay 50.000.000 đồng, còn lại D ăn tiêu hết. Do đến hẹn không thấy D trả tiền, nhiều lần liên lạc không được nên ông P đến nhà D tìm thì phát hiện thửa đất D đang ở chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nghi ngờ Giấy chứng nhận BP 237372 là giả, ngày 24/4/2024 ông P đã làm đơn tố giác và giao nộp 01 Giấy chứng nhận BP 237372; 01 Giấy cầm sổ đỏ quyền sử dụng đất ngày 12/9/2022 và 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng của chị Chíu Thị H1 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Tại bản kết luận giám định số 1019/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 237372 ghi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hoàng Văn D cấp ngày 15/7/2022 là giấy chứng nhận giả.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Hoàng Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tuy nhiên, đối với số tiền vay, D thừa nhận chỉ sử dụng Giấy chứng nhận BP 237372 giả để vay của ông P số tiền 150.000.000 đồng, còn số tiền 50.000.000 đồng là D vay của chị M trước đó. Nhưng căn cứ các tài liệu điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ để kết luận D có hành vi sử dụng Giấy chứng nhận BP 237372 giả thế chấp vay của ông Chìu Chăn P số tiền 200.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 975/CT-VKS ngày 10/9/2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Ngày 11/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên thụ lý vụ án hình sự số 14/2024/TLST-HS; Ngày 27/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 02/2024/HSST-QĐ với lý do: Trong quá trình chuẩn bị xét xử, anh Hoàng Văn T1 (là em trai của bị cáo Hoàng Văn D) nộp cho tòa án tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án là Hợp đồng vay tiền 150.000.000 đồng giữa bên cho vay ông Chìu Chăn P và bên vay ông Hoàng Văn D, số công chứng 290, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/9/2022 tại Văn phòng Công chức Nguyễn Bá S2.
Ngày 31/10/2024 Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên thụ lý lại vụ án trên, trong hồ sơ có văn bản số 1202/VKS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên “V/v giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển hồ sơ vụ án để xét xử” với lý do: Kết quả điều tra bổ sung làm rõ, số tiền 150.000.000 đồng trong hợp đồng vay mượn chính là số tiền D sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để vay ông P, nên không làm thay đổi nội dung Cáo trạng số 975/CT-VKS ngày 10/9/2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Hoàng Văn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55; của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn D từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hoàng Văn D phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 10 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2024.
Về bồi thường: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo D phải bồi thường cho bị hại ông Chìu Chăn P số tiền 200.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên là đúng người, đúng tội; Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, bị cáo không có ý kiến, tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, phù hợp với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra bị cáo Hoàng Văn D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và công nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người làm chứng, đơn tố giác tội phạm, Kết luận giám định số 1019/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 237372 ghi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hoàng Văn D cấp ngày 15/7/2022 là giấy chứng nhận giả và các tài liệu, chứng cứ chứng minh khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Do cần tiền để tiêu sài, tháng 9 năm 2022 bị cáo D đã liên hệ qua tài khoản facebook với một người không quen biết, đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 237372 mang tên Hoàng Văn D cấp ngày 15/7/2022 tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 86, địa chỉ: khu F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, nơi D đang ở (gọi tắt là Giấy chứng nhận BP 237372) nhằm mục đích đưa cho ông Chìu Chăn P (là bố đẻ chị M) để làm tin vay tiền, rồi chiếm đoạt của ông Chìu Chăn P hai lần. Lần thứ nhất với số tiền 150.000.000 đồng; lần thứ hai với số tiền 50.000.000 đồng, mỗi lần đều cấu thành tội phạm. Tổng số tiền bị cáo D chiếm đoạt của ông Chìu Chăn P là 200.000.000 đồng.
Như vậy, với các chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 9 năm 2022, bị cáo Hoàng Văn D đã có hành vi liên hệ rồi cung cấp thông tin cho 01 người không rõ lai lịch, địa chỉ trên mạng xã hội Facebook để làm Giấy chứng nhận BP 237372 giả. Sau đó, từ ngày 12/9/2022 đến ngày 01/10/2022, tại số nhà B, phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, D đã đưa Giấy chứng nhận BP 237372 giả cho ông Chìu Chăn P để làm tin, vay số tiền 200.000.000 đồng, rồi chiếm đoạt số tiền này. Hành vi này của bị cáo Hoàng Văn D đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm 15 năm và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhưng bị cáo đã đưa ra thông tin để thuê người khác làm giả giấy này và thực hiện thủ đoạn gian dối làm cho người khác tưởng đây là giấy tờ thật để giao dịch giao tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật hình sự nên cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với người làm giả Giấy chứng nhận BP 237372 do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra, mở rộng vụ án.
Đối với Voòng A có hành vi giúp bị cáo Hoàng Văn D ký giả mạo chữ ký ông Hoàng Văn M1 (Trưởng khu F) vào Giấy cầm sổ đỏ quyền sử dụng đất và vay của D 50.000.000 đồng nhưng Ử không biết Giấy chứng nhận BP 237372 là giả và không biết tiền của D do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.
[4] Tuy nhiên cũng cần phải xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo D thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần (hai lần), mỗi lần đều cấu thành tội phạm, thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác, bị cáo có thời gian tham gia, phục vụ trong quân đội. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tương ứng quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.
[5] Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Đến nay bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, nên khi quyết định hình phạt có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Nhưng dù có xét thế nào chăng nữa thì cũng nhất thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đáp ứng được yêu cầu trong việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: do bị cáo chưa trả số tiền chiếm đoạt cho bị hại và bị hại yêu cầu trả nên buộc bị cáo phải trả cho bị hại Chìu Chăn P số tiền 200.000.000 đồng.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn D 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 03 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hoàng Văn D phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Hoàng Văn D phải trả lại cho anh C1 Chăn Phúc số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: bị cáo Hoàng Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Độ |
Bản án số 19/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 19/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Van D - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sử dụng tài giả của cơ quan, tổ chức
