|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS - ST
Ngày 26/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mã Thị Sen
Ông Hoàng Văn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Luận và bà Hứa Thị Hồng Tươi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn T1, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2000 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nông Văn H, sinh năm 1964 và bà Dương Thị H1, sinh năm 1969; chung sống như vợ chồng với chị Nông Thị S, sinh năm 2000: Có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án: 01. Ngày 28/11/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HSST.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Dương Thị H1, sinh năm 1969 - Trú tại: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, tại thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Đội điểu tra tổng hợp Công an huyện P bắt quả tang Nông Văn T1, sinh năm 2000, trú tại thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải T1 đang mặc 01 gói được gói bằng túi nilon (dạng túi đựng xi lanh) bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, niêm phong vào phong bì kí hiệu T1 và tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA.
Hồi 13 giờ 40 phút, ngày 15/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở và công trình liên quan đối với Nông Văn T1, tại thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả: không thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến vụ án.
Số chất màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 được tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Tại biên bản mở, đóng niêm phong, kiểm tra, cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ nghi là chất ma túy, hồi 17 giờ 50 phút ngày 15/6/2024 xác định: Chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T1 có khối lượng 7,54g (bảy phẩy năm bốn gam). Sau khi cân, toàn bộ số chất màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu G1 để gửi đi giám định. Vỏ túi nilon và phong bì niêm phong cũ ký hiệu T1 được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu G2 để bảo quản.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 135/QĐ-CSĐT ngày 15/6/2024 để xác định khối lượng, loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số 214/KL-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 7,54g (bảy phẩy năm bốn gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu G1 còn lại 7,42g (bảy phẩy bốn hai gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T134 hoàn trả cho cơ quan trưng cầu.
Bị cáo Nông Văn T1 khai nhận: Bị cáo sử dụng và nghiện chất ma túy từ năm 2018, khoảng 08 giờ ngày 12/6/2024, bị cáo một mình đi xe khách đến cổng Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Bắc Kạn tìm và mua được 01 gói ma túy, loại heroine đựng trong túi nilon loại túi đựng xilanh, với một người đàn ông lạ mặt với số tiền 2.500.000 đồng để bản thân sử dụng. Ngày 15/6/2024, bị cáo mang theo gói ma túy đi ra khu vực gần nhà ở của bị cáo thuộc thôn K, xã N, huyện P, mục đích để tìm chỗ sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang và thu giữ gói ma túy.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSPN ngày 05/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử Nông Văn T1 về "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nông Văn T1 từ 06 năm đến 6 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:
Ngày 15/6/2024, tại thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Nông Văn T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 7,54g (bảy phẩy năm bốn gam) ma túy, loại heroine để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
2. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...
g) Heroine, ... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội.
[3].Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã có 01 tiền án ngày 28/11/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HSST. Bị cáo không có tiền sự, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra, xác minh cho thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[4]. Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng của vụ án gồm:
01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T134, bên trong có phong bì, bao gói cũ và toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định không có giá trị xử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu G2, bên trong có vỏ túi nilon và phong bì niêm phong cũ T1 không có giá trị xử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
01 (một) điện thoại di động loại bàn phím bấm mặt sau màu xanh có dòng chữ NOKIA đã qua sử dụng, điện thoại có hai số IMEI gồm: IMEI1: 35772311466067; IMEI2: 357723114660075 tạm giữ của Nông Văn T1 ngày 15/6/2024, niêm phong trong phong bì ký hiệu G3. Đây là chiếc điện thoại mà bà Dương Thị H1 cho bị cáo mượn, bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, do vậy cần trả lại chiếc điện thoại cho bà Dương Thị H1. Tuy nhiên tại phiên tòa bà H1 không yêu cầu lấy lại chiếc điện thoại, do vậy cần tịch thu hóa giá chiếc điện thoại nộp ngân sách Nhà nước.
[5]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[6] Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo. Do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Nông Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nông Văn T1 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2024.
[3]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T134, bên trong có phong bì, bao gói cũ và toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu G2, bên trong có vỏ túi nilon và phong bì niêm phong cũ T1.
- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím bấm mặt sau màu xanh có dòng chữ NOKIA đã qua sử dụng, điện thoại có hai số IMEI gồm: IMEI1: 35772311466067; IMEI2: 357723114660075 tạm giữ của Nông Văn T1 ngày 15/6/2024, niêm phong trong phong bì ký hiệu G3.
(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn).
[4]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[5]. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hà Thanh Tuấn |
Bản án số 19/2024/HS - ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 19/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Th (tàng trữ trái phép chất ma túy".
