Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/9/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng;

Các Hội thẩm nhân dân: Võ Trọng Thơm và ông Nguyễn Thanh Thơm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo H - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn C, xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Bị đơn: Anh Ban Văn Â, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn C, xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 01 tháng 4 năm 2024, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Ban Văn  có đăng ký kết hôn vào ngày 27/8/2019 trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế và được Ủy ban xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà ba mẹ chồng, địa chỉ Thôn C, xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, anh  có tính gia trưởng nên chị T thấy không thể tiếp tục mối quan hệ nữa. Chị T bỏ về nhà mẹ đẻ tại địa chỉ Thôn P, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 8/8/2024 đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể chung sống hạnh phúc với nhau nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Ban Văn Â. Hiện nay chị T đang làm MC dẫn chương trình tự do với thu nhập trung bình mỗi tháng 15 triệu đồng.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày vợ chồng có 02 người con chung là cháu Ban Văn Thiên B, sinh ngày 01/02/2020 và cháu Ban Nguyễn Thiện M, sinh ngày 06/8/2022. Hiện tại cháu Ban Văn Thiên B đang ở với anh  và cháu B1 Nguyễn Thiện M đang ở với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Ban Văn Thiên B và Ban Nguyễn Thiện M cho đến khi hai cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Hai bên không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 13/9/2024, bị đơn ông Ban Văn  trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Ban Văn  và Chị Nguyễn Thị Thanh T quen và tìm hiểu nhau một thời gian. Sau đó đăng ký kết hôn vào ngày 27/8/2019 trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế và được Ủy ban xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà ba mẹ chồng, địa chỉ tại xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, hay cãi vả. Hiện tại anh  còn tình cảm với chị T nên chị T yêu cầu ly hôn thì anh  không đồng ý.

- Về con chung: Anh Ban Văn  trình bày vợ chồng có 02 người con chung là cháu Ban Văn Thiên B, sinh ngày 01/02/2020 và cháu Ban Nguyễn Thiện M, sinh ngày 06/8/2022. Nếu ly hôn anh  yêu cầu được nuôi cháu Ban Văn Thiên B và giao cháu B1 Nguyễn Thiện M cho mẹ là chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại mặc dù cháu B đang ở với chị T, chị T đưa hai con về nhà mẹ đẻ sinh sống từ tháng 8/2024 ( tức là hơn một tháng kể từ đó cho đến nay), nhưng cháu B anh  vẫn đưa đón học trường mẫu giáo tại xã P và anh  là người trực tiếp chăm lo cho cháu. Công việc của anh  là cho thuê dàn nhạc đám cưới và làm lô tô, thu nhập mỗi tháng hơn 15.000.000 đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã P cho biết: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Ban Văn  là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 27/8/2019. Vợ chồng anh  có đăng ký hộ khẩu và thường trú tại Thôn C, xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cách đây khoảng 01 tháng, chị T đã đưa con về ngoại ở tại địa chỉ xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Về mâu thuẫn vợ chồng thì phía địa phương không nắm rõ. Về con chung, vợ chồng chị T và anh  có 02 người con chung là cháu Ban Văn Thiên B, sinh ngày 01/02/2020 và cháu Ban Nguyễn Thiện M, sinh ngày 06/8/2022. Hiện tại cháu B và cháu M đang ở với cô T. Về Việc cô T yêu cầu ly hôn thì chính quyền địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định tại điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Ban Văn Â; giao cháu Ban Văn Thiên B, sinh ngày 01/02/2020 cho anh Ban Văn  trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi 02 cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi và giao cháu Ban Nguyễn Thiện M, sinh ngày 06/8/2022 cho chị Nguyễn Thị Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi, hai bên không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Ban Văn  không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Ban Văn  có địa chỉ tại Thôn C, xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nên thuộc tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và Ban Văn  có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 27/8/2019 trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế và được Ủy ban xã P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh  là hợp pháp. Quá trình chung sống, giữa chị T và anh  đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không có tiếng nói chung nên chị T thấy không thể tiếp tục mối quan hệ nữa. Chị T bỏ về nhà mẹ đẻ tại địa chỉ thôn P, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 08/8/2024 đến nay. Anh  không đồng ý ly hôn với chị T nhưng anh  lại không có biện pháp, hành động gì để hàn gắn mối quan hệ rạn nứt giữa hai vợ chồng. Xét thấy, hai bên không còn tình cảm quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh  đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu được ly hôn anh Ban Văn  là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Ban Văn  công nhận vợ chồng có 02 người con chung là cháu Ban Văn Thiên B, sinh ngày 01/02/2020 và cháu Ban Nguyễn Thiện M, sinh ngày 06/8/2022. Chị T yêu cầu được nuôi cả hai con chung. Anh  đồng ý giao cháu Ban Nguyễn Thiện M cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) và yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Ban Văn Thiên B đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi), hai bên đều không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng Chị T và anh B1 đều có việc làm với thu nhập ổn định, đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cháu Ban Nguyễn Thiện M cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) và giao cháu Ban Văn Thiên B cho anh  trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T và anh  tự nguyện không yêu cầu bên không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Chị T và anh  có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Ban Văn  không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T. Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Ban Văn Â.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao Ban Nguyễn Thiện M, sinh ngày 06/8/2022 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) và giao Ban Văn Thiên B, sinh ngày 01/02/2020 cho anh Ban Văn  trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Ban Văn  không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Ban Văn  không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
  2. Về án phí: Buộc Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo biên lai số 0003766 ngày 06/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế ;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - UBND xã Phú Sơn, thị xã Hương Thủy
  • (ĐKKH ngày 27/8/2019);
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger