|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/DS-ST
Ngày 15/8/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hướng và bà Trần Thị Thu Điệp.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Hoàng, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Đại, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 06/2024/TLST-DS ngày 01/3/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 13/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H (H).
Địa chỉ: Số B N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Viết A, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh H1. Địa chỉ: 4 B, phường P, thành phố H (Quyết định ủy quyền số 1489/QĐ-TGĐ ngày 23/5/2023).
- Ông Võ Phước C, chức vụ: Chuyên viên QHKH. Địa chỉ: 4 B, phường P, thành phố H. (Giấy ủy quyền số 15/UQ-TTXLN ngày 18/01/2024), có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn D, sinh năm 1961; Bà Trần Thị D1, sinh năm 1963. Cùng địa chỉ: TDP L, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đều trình bày:
Ngày 18/11/2022, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H (sau đây viết tắt là H2) và bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D đã ký kết hợp đồng tín dụng số 28838/22MB/HĐTD ngày 18/11/2022, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 12/12/2022 với nội dung Ngân hàng cho ông D1 bà D vay số tiền 500.000.000 đồng; Lãi suất: 15%/năm. Lãi suất được điều chỉnh 03 tháng /lần theo từng khế ước nhận nợ cụ thể; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mục đích vay: phát triển kinh tế hộ gia đình trung dài hạn; Phương thức thanh toán: Nợ gốc: được thanh toán làm 84 kỳ (mỗi kỳ 01 tháng), trả vào ngày 15 của tháng. Ngày trả nợ gốc đầu tiên là ngày 15/01/2023; Về nợ lãi: trả vào ngày 15 của tháng. Ngày trả nợ lãi đầu tiên là ngày 15/01/2023.
Quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày giải ngân cho đến ngày 15/9/2023, ông D1 và bà D đã trả cho H2 số tiền nợ gốc là 47.616.000 đồng, nợ lãi là 46.367.322 đồng, phí phạt là 301.550 đồng. Sau đó ông D, bà D1 dừng thanh toán. Do ông D bà D1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên số nợ vay còn thiếu đã bị chuyển nợ quá hạn với mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 16/01/2023. Tính đến ngày 15/8/2024, ông D bà D1 còn nợ H2 tổng số tiền: 516.104.203 đồng, trong đó nợ gốc là 452.384.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 54.796.579 đồng, nợ lãi quá hạn chậm trả là 8.923.624 đồng.
Ngày 18/11/2022, bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 37/5, tờ bản đồ số: Bản vẽ quy hoạch phê duyệt ngày 08/9/2008, diện tích 247m², tọa lạc tại tổ dân phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT923267, do Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/12/2014, để đảm bảo nghĩa vụ của ông D1 bà D theo hợp đồng thế chấp số 28838/22MB/HĐBĐ ngày 18/11/2022 giữa H2 với ông D1 bà D. Hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Nay H2 khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D phải thanh toán cho H2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả tổng cộng là: 516.104.203 đồng và yêu cầu ông D và bà D1, tiếp tục trả lãi, lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc còn lại, theo mức lãi suất hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Tại phiên tòa, H2 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông D, bà D1 phải trả số tiền 516.104.203 đồng, trong đó nợ gốc là 452.384.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 54.796.579 đồng, nợ lãi quá hạn chậm trả là 8.923.624 đồng và yêu cầu ông D, bà D1 tiếp tục trả lãi, lãi phát sinh trên số tiền nợ còn lại, theo mức lãi suất hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D không trả được nợ theo yêu cầu của H2 đã nói trên thì H2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 37/5, Tờ bản đồ số: Bản vẽ quy hoạch phê duyệt ngày 08/9/2008, diện tích 247m², tọa lạc tại Tổ dân phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT923267, do Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/12/2014 cho ông D và bà D1 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Tại Bản tự khai ngày 09/4/2024, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Trần Thị D1 đều trình bày:
Bà xác nhận toàn bộ nội dung nguyên đơn trình bày là đúng. Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên sau khi ký kết hợp đồng, vợ chồng bà chỉ mới trả được cho H2 được một vài kỳ. Nay vợ chồng bà xin được trả toàn bộ số tiền nói trên vào ngày 31/7/2024.
Tại Bản tự khai ngày 09/4/2024, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Dư Đ trình bày:
Ông xác nhận toàn bộ nội dung nguyên đơn trình bày là đúng. Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên sau khi ký kết hợp đồng, vợ chồng ông không thể tiếp tục trả nợ được. Ông thống nhất với ý kiến của bà D1 và xin được trả toàn bộ số tiền nói trên vào ngày 31/7/2024.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Dư K đến Toà án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, ông D bà D1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:
- [1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72, Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H2: Buộc ông D bà D1 phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ tính đến ngày 15/8/2024 gồm 516.104.203 đồng, trong đó nợ gốc là 452.384.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 54.796.579 đồng, nợ lãi quá hạn chậm trả là 8.923.624 đồng; Buộc ông D, bà D1 phải thanh toán số tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn từ ngày 16/8/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền còn nợ thì H2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng thế chấp đã ký. Về án phí: bà Trần Thị D1, ông Nguyễn Dư P chịu chi phí thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H (sau đây viết tắt là H2) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D, có địa chỉ tại: TDP L, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo quy định tại khoản 3 Điều 29, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bị đơn bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên toà. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ và căn cứ và các tài liệu chứng cứ thu thập được để giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với yêu cầu đòi nợ của H2, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tính đến ngày 15/8/2024, ông D, bà D1 còn nợ của H2 số tiền nợ gốc là 452.384.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 54.796.579 đồng, nợ lãi quá hạn chậm trả là 8.923.624 đồng. Tổng cộng gồm 516.104.203 đồng, là phù hợp với số tiền ông D, bà D1 đã trả và số tiền còn lại theo hợp đồng tín dụng số 28838/22MB/HĐTD ngày 18/11/2022. Do ông D, bà D1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại điểm 3.a.b Điều 2, Điều 4 của hợp đồng tín dụng, điểm e Phần I, khoản 3 Phần III của Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ ngày 12/12/2022, đồng thời vi phạm các Điều 280, Điều 282 và Điều 466 Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử cần buộc ông D, bà D1 phải trả toàn bộ số tiền trên cho H2.
Do đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên Hội đồng xét xử cần căn cứ khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, buộc ông D, bà D1 tiếp tục trả lãi, lãi phát sinh trên số tiền nợ còn lại, theo mức lãi suất hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
[2.3] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hợp đồng thế chấp tài sản số 28838/22MB/HĐBĐ ngày 18/11/2022, được ký kết giữa H2 và bà Trần Thị D1, ông Nguyễn Dư N đảm bảo thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bà D1, ông D là hoàn toàn tự nguyện, đã được đăng ký giao dịch đảm bảo phù hợp pháp luật nên có hiệu lực thi hành.
Theo cam kết của hợp đồng thế chấp thì nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm toàn bộ nghĩa vụ của bên thế chấp đối với H2. Do đó, trong trường hợp ông D, bà D1 không thực hiện nghĩa vụ trả các khoản tiền trên, thì H2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 37/5, tờ bản đồ số: Bản vẽ quy hoạch phê duyệt ngày 08/9/2008, diện tích 247m², tọa lạc tại tổ dân phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT923267, do Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/12/2014 cho bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D, để thu hồi nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không thanh toán hết khoản nợ trên thì bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Gồm 1.500.000 đồng. Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định là 1.500.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp thay cho bị đơn nên cần buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị D1, ông Nguyễn Dư P chịu án phí sơ thẩm gồm: 24.644.168 đồng (516.104.203 đồng x 5%= 24.644.168 đồng).
- H2 không phải chịu án phí tranh chấp dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 282, Điều 299, Điều 317, Điều 323, Điều 351, Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H.
Buộc bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H số tiền gồm 516.104.203 đồng, trong đó nợ gốc là 452.384.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 54.796.579 đồng, nợ lãi quá hạn chậm trả là 8.923.624 đồng.
Kể từ ngày 16/8/2024, bà Trần Thị D1, ông Nguyễn Dư C1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Về xử lý tài sản thế chấp:
Trong trường hợp bà Trần Thị D1, ông Nguyễn Dư K thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H, thì Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp thửa đất số 37/5, tờ bản đồ số: Bản vẽ quy hoạch phê duyệt ngày 08/9/2008, diện tích 247m², tọa lạc tại tổ dân phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT923267, do Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/12/2014 cho bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D, theo Hợp đồng thế chấp số 28838/22MB/HĐBĐ ngày 18/11/2022, được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H với bà Trần Thị D1, ông Nguyễn Dư .
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không thanh toán hết khoản nợ trên thì bà Trần Thị D1, ông Nguyễn D vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn 1.500.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã nộp.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị D1, ông Nguyễn Dư P chịu án phí tranh chấp dân sự sơ thẩm gồm 24.644.168 đồng đồng.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H không phải chịu án phí tranh chấp dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm 11.583.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001575 ngày 26/02/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 19/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 19/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
