|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31/5/2024
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Lan.
- Ông Bùi Tấn Ba.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nhật Lam - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 180/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Võ Quang N, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Bà Bùi Thị Lệ T, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 12/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Võ Quang N (sau đây viết tắt là ông N) trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Bùi Thị Lệ T (sau đây viết tắt là bà T) tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 163, ngày 01/9/2008. Quá trình chung sống, giữa ông và bà T phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, kinh tế gia đình khó khăn và bà T không quan tâm đến ông; hiện nay vợ chồng ông không còn chung sống với nhau và không khả năng đoàn tụ chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà T.
Về con chung: Giữa ông và bà T có 02 (hai) con chung là các cháu Võ Bùi Hải C, sinh ngày 06/3/2008 và Võ Bùi Hải U, sinh ngày 19/9/2010 (sau đây viết tắt là các cháu C, U), hiện đang sinh sống cùng với bà T. Khi ly hôn, ông yêu cầu giao cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu C, U; ông cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi các cháu C, U đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn trình bày ý kiến ngày 16/4/2024, bị đơn là bà Bùi Thị Lệ T trình bày:
Bà và ông N tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2008; quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, bà và ông N đã không còn chung sống với nhau từ 07 năm nay, không có khả năng đoàn tụ nên ông N yêu cầu ly hôn thì bà đồng ý.
Giữa bà và ông N có 02 (hai) con chung là các cháu C, U; khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu C, U và yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi các cháu C, U đủ 18 tuổi. Hiện nay, bà làm nghề công nhân, thời gian làm việc trong giờ hành chính, thu nhập mỗi tháng 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), có nhà ở cùng gia đình tại thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi nên bà có đủ khả năng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự;
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 21, 28, 35, 39, 144 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 9, các Điều 53, 56, 81, 82, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa ông N và bà T; giao các cháu C, U cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; buộc ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi; ông N và bà T không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên không giải quyết; ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 163, ngày 01/9/2008 của UBND thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi, kết quả xác minh tình trạng hôn nhân và trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định ông N và bà T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa ông N và bà T là hợp pháp.
[2.2] Ông N và bà T đều thừa nhận trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có xảy ra mâu thuẫn, hiện nay không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau và không có khả năng đoàn tụ nên có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa ông N và bà T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N.
[2.3] Theo trình bày của ông N và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định ông N và bà T có 02 (hai) con chung là các cháu C, U. Xét thấy, hiện nay bà T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu C, U; các cháu C, U là con gái, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn và có nguyện vọng tiếp tục sinh sống cùng với bà T, trong khi đó bà T có đủ điều kiện, khả năng nuôi con. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao các cháu C, U cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[2.4] Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Trong vụ án này, bà T có yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên cần buộc ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu C, U mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi cháu C, U đủ 18 tuổi là phù hợp khả năng thực tế của ông N và nhu cầu thiết yếu của các cháu C, U.
[2.5] Ông N và bà T không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung, trình bày không có nợ chung nên căn cứ quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết chia tài sản chung và nợ chung trong vụ án này.
[2.6] Ông N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại các Điều 147, 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông N đã nộp thì ông N phải tiếp tục nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
[3] Ý kiến của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
- Ông Võ Quang N được ly hôn bà Bùi Thị Lệ T.
- Giao cháu Võ Bùi Hải C, sinh ngày 06/3/2008 và cháu Võ Bùi Hải U, sinh ngày 19/9/2010 cho bà Bùi Thị Lệ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Võ Quang N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Buộc ông Võ Quang N có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các cháu Võ Bùi Hải C và Võ Bùi Hải U mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/5/2024) cho đến khi các cháu Võ Bùi Hải C và Võ Bùi Hải U đủ 18 tuổi.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ông Võ Quang N phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông Võ Quang N đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002060 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi thì ông Võ Quang N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đô |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
