|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 5 năm 2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Ảnh
Ông Trần Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2023/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 về "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1990; Địa chỉ: K đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Ánh M, sinh năm 1993; Địa chỉ: K đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ liên hệ: Thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn – ông Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Trần Thị Ánh M xây dựng gia đình với nhau năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ tôi tại địa chỉ K đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn đến tháng 9 năm 2019 thì bà M bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống đến năm 2022 bà M quay lại nhà ông Hậu sinh S được 4 tháng rồi bỏ về lại nhà mẹ sinh sống từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế khó khăn và bất đồng quan điểm. Tôi đã nhiều lần cố gắng hàn gắn vợ chồng nhưng không được, nay tôi xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà M.
Về quan hệ con chung: Tôi xác định tôi và bà Trần Thị Ánh M có 01 con chung tên Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2018. Hiện nay, con chung đang do tôi trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Tại Bản tự khai ngày 11/4/2024 bà Trần Thị Ánh M có ý kiến như sau: Tôi đồng ý ly hôn với yêu cầu của ông Nguyễn Văn H; Về con chung: tôi và ông Nguyễn Văn H có 01 con chung là Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2018; do tôi không có đủ kinh tế nên đồng ý giao cho cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tôi không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: không có. Hiện nay tôi đã chuyển về Thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước để sinh sống và tôi đồng ý để Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng giải quyết; ngoài ra tôi không có ý kiến gì khác.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Đối với bị đơn, kể từ thời điểm thụ lý đến thời điểm trước khi mở phiên tòa đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Trần Thị Ánh M; giao con chung Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2018 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng; bà M không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, về nợ chung: không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn H đối với bị đơn bà Trần Thị Ánh M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là bà Trần Thị Ánh M đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bà M có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án: Theo nguyên đơn trình bày thì ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Ánh M xây dựng gia đình với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ ông H tại địa chỉ K đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn và năm 9/2020 thì mâu thuẫn đỉnh điểm nên bà M bỏ về nhà mẹ ruột sống sau đó năm 2022 có quay lại chung sống cùng ông H 4 tháng nhưng không hàn gắn được nên bà về lại nhà cha mẹ ruột sống từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, không có tiếng nói chung nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Bản thân ông H nhiều lần hàn gắn vợ chồng nhưng không được, ông bà sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay ông H xác định tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà M. Về con chung: ông H xác định có 01 con chung là Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2017; Ly hôn, ông hậu có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Tòa án đã tiến hành ủy thác lấy lời khai của bà Trần Thị Ánh M: bà M đồng ý ly hôn với yêu cầu của ông Nguyễn Văn H; Về con chung: bà M đồng ý giao con chung Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2018 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà M không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: không có.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Cuộc hôn nhân của ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Ánh M là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Đến nay, ông H cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không để kéo dài và không còn tình cảm với bà M nữa nên có quyền làm đơn khởi kiện xin ly hôn theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn, từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử bà Trần Thị Ánh M đều không có mặt theo triệu tập; thông báo của Toà án, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải và cũng không tham gia phiên toà. Nhưng tại Bản tự khai ngày 1/4/2024, bà M đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Qua đó, thể hiện bà M cũng không còn tình cảm vợ chồng với ông H. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; có kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả nên cần áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Văn H là hợp tình hợp lý.
[4] Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Văn H trình bày vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2018. Ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, con chung Nguyễn Công T đang do ông H trực tiếp nuôi dưỡng; bà M cũng đồng ý giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng nên nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2018 của ông H và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
[5] Về quan hệ tài sản chung: Ông Nguyễn Văn H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về nợ chung: Ông Nguyễn Văn H trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo luật định.
[8] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn" của ông Nguyễn Văn H đối với bà Trần Thị Ánh M.
-
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Trần Thị Ánh M.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 93/2017, ngày 12 tháng 7 năm 2017 của UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng)
-
Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Ánh M có 01 con chung tên Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2018.
Giao con chung Nguyễn Công T, sinh ngày 05/4/2018 cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Trần Thị Ánh M không cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con.
- Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0001393 ngày 25/10/2023.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
