|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 4 -2024
V/v “tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Mỹ Nhung
Ông Nguyễn Viết Ngoan
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 20/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXX-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 41/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1991, đề nghị vắng mặt
Bị đơn: Anh Phạm Thanh P, sinh năm 1985, vắng mặt lần 2 không lý do
Cư trú tại: khu vực Đ, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:
Hôn nhân giữa chị N và anh P qua quen biết và tìm hiểu được 01 năm, sau đó tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2008, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ vào ngày 25/4/2009. Chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân anh P có tính ghen, đánh chị. Chị đã bỏ nhà ra đi để đi làm, sau đó quay về chung sống lại nhưng không được hạnh phúc. Chị và anh P sống ly thân từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân mỗi người sống một nơi, chị có thường xuyên tới lui thăm con nhưng không ai liên hệ hàn gắn tình cảm.
Chị xác định tình cảm đối với anh P không còn nữa nên xin ly hôn.
Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Thị Quỳnh N, sinh ngày 05/01/2009 và Phạm Hoàng N, sinh ngày 06/10/2010. Ngoài ra, không có con nuôi hay con riêng nào khác. Từ khi chị và anh P sống ly thân 02 con chung do anh P nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị giao 02 con chung cho anh P nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/con/tháng đến khi thành niên.
Về tài sản chung, riêng, nợ: không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh P. Tại biên bản xác minh ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, địa phương cho biết chị Ngân và anh Phương là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên Phạm Thị Quỳnh N và Phạm Hoàng N, 02 cháu đang sống chung với anh P. Nguyên nhân ly hôn không rõ. Về tài sản chung, nợ chung không rõ. Anh P vẫn còn sinh sống tại địa phương và đăng ký thường trú tại khu vực Đ, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, thường xuyên vắng nhà.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: chị Trần Thị N được ly hôn với anh Phạm Thanh P; Về con chung: giao cháu Phạm Thị Quỳnh N, sinh ngày 05/01/2009 và Phạm Hoàng N, sinh ngày 06/10/2010 cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ngân cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/con/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về tố tụng: theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Phạm Thanh P có nơi cư trú tại: khu vực Đ, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Ngân có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn anh P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh P là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị N cho rằng do anh P có tính ghen, đánh chị. Chị đã bỏ nhà ra đi sau đó có quay về chung sống lại nhưng không được hạnh phúc. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh P nhiều lần để tham gia tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của chị N nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến, bỏ mặt đối với yêu cầu khởi kiện của chị N. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh P đã trầm trọng, cuộc sống chung đã không còn tồn tại vì đã ly thân từ tháng 12 năm 2018 đến nay, không liên hệ hàn gắn tình cảm. Mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị N được ly hôn với anh P.
[3] Về con: Theo lời khai của chị N và kết quả xác minh của Tòa án, anh chị có 02 con chung tên Phạm Thị Quỳnh N, sinh ngày 05/01/2009 và Phạm Hoàng N, sinh ngày 06/10/2010. Chị Ngân đề nghị giao 02 con chung cho anh P nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/con/tháng đến khi con chung thành niên. Cháu N và cháu N đã trên 07 tuổi, quá trình giải quyết Toà án không ghi nhận được nguyện vọng của các cháu muốn sống với ai, nhưng trong thời gian anh chị ly thân đến nay con chung do anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, cần tiếp tục giao con cho anh P nuôi dưỡng là phù hợp.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/01 con/tháng, nên ghi nhận sự tự nguyện này của chị N.
[4] Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải nộp theo quy định.
[6] Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, 227, 228, Điều 235, 238, 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 51, 53, 56, 57, 59, 69, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị N được ly hôn với anh Phạm Thanh P.
Về con chung: giao cháu Phạm Thị Quỳnh N, sinh ngày 05/01/2009 và Phạm Hoàng N, sinh ngày 06/10/2010 cho anh Phạm Thanh P tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị N về việc cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ (một triệu đồng)/01 con/tháng cho đến khi con chung thành niên. Thời gian tính từ ngày 22/4/2024.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung chị Trần Thị N, không ai được cản trở chị N thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0005168 ngày 26/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, chị N phải nộp thêm 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng.
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Khúc Thị Hồng |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị N được ly hôn với anh P
