TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày: 24-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Văn Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Thiện
- Bà Giáp Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ- Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại hội trường xét xử của Toà án nhân dân huyện Tân Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST- HS, ngày 12 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Lương Đức M, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở: số nhà D, đường N, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 11/12; con ông Lương Xuân M1 và bà Lăng Thị T; vợ là Nguyễn Thị N; bị cáo có 02 con sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Ông Đặng Tiến L (đã chết)
- Người đại diện của bị hại:
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1957; anh Đặng Văn N1, sinh năm 1982, anh Đặng Văn L1, sinh năm 1979, anh Đặng Văn H, sinh năm 1984; người đại diện theo ủy quyền của bà C, anh N1, anh L1 là anh Đặng Văn H; cùng nơi thường trú: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đỗ Văn C1, sinh năm 1982; nơi thường trú: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991; nơi thường trú: số nhà D, đường N, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng:
Ông Trần Văn C2, sinh năm 1958.
Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1971.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 01/11/2024, Lương Đức M điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-202.08 đi trên Quốc lộ A theo hướng thị trấn C đi thành phố B. Khi đi đến đoạn km76+400 thuộc thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Lương Đức M buồn ngủ, không làm chủ được tay lái đã điều khiển xe ô tô sang phần đường bên trái theo chiều đi nên phần đầu xe bên trái xe ô tô của M đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 98H1-249.02 do ông Đặng Tiến L, sinh năm 1954; trú tại: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả ông Lương Đức M chết tại chỗ.
Ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra, Đội Cảnh sát giao thông- Trật tự Công an huyện T đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với M kết quả: nồng độ cồn trong hơi thở của M là 0,055mg/l.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km76+400 Quốc lộ A thuộc Thôn H, xã V, huyện T. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, lòng đường rộng 11,5m, ở giữa có vạch kẻ đường màu vàng dạng nét đứt chia lòng đường thành hai chiều. Chiều đường bên phải theo chiều thành phố B đi thị trấn C rộng 5,85m. Ở hai chiều đường đều có vạch kẻ đường màu trắng dạng nét liền phân chia phần đường xe chạy, hai bên đường có rãnh thoát nước và cống thoát nước trên có nắp đậy, có lề đường hai bên.
- Tử thi nằm ngửa một nửa thân người nằm trên lề đường bên phải theo chiều thành phố B đi thị trấn C (ký hiệu 3), một nửa thân người nằm dưới lòng đường, phần đầu tử thi quay về hướng lề đường bên phải theo chiều thành phố B đi thị trấn C. Đỉnh đầu tử thi cách đầu dấu vết số 2 là 2,25m, cách mép chuẩn 0,6m nằm ngoài mép đường; gót chân phải tử thi cách dấu vết số 2 là 0,9m, cách mép chuẩn 0,8m; khoảng cách giữa hai gót chân là 0,5m.
- Vị trí xe mô tô BKS 98H1-249.02 đổ nghiêng phải trên đường, đầu xe quay về hướng đi thị trấn C, đuôi xe quay về hướng ngược lại (ký hiệu 4). T1 trục trước xe mô tô cách đầu dấu vết 2 là 3,32m; cách mép chuẩn 1,7m; tâm trục sau xe cách đầu vết số 2 là 2,45m, cách mép chuẩn là 1,1m.
- Vị trí xe ô tô BKS 98C-202.08 (ký hiệu 5) đầu xe quay về hướng đi thành phố B, đuôi xe quay về ngược lại. T1 trục trước bên trái cách mốc chuẩn 19,15m; cách mép đường chuẩn 9,95m; cách tâm dấu vết (1) là 20m; tâm trục sau bên trái cách tâm dấu vết (1) là 17,65m; cách mép chuẩn 10m.
Gia đình bị hại đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 áo phông cộc tay màu tím than, mặt trước áo bám dính bụi đất màu nâu đỏ, cạnh áo bên trái có một lỗ thủng kích thước (1,5x1,5)cm, mặt trong cổ áo có mầu in chữ. 01 quần soóc ngố, màu xám phía trước và sau bám dính bụi đất màu nâu đỏ, ống quần bên trái bị rách nhiều vị trí bám dính chất màu nâu đỏ.
Tại Bản kết luận giám định số 2431/KL-KTHS ngày 15/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Dấu vết gãy vỡ nhựa, chùn cong, mài sát sơn, kim loại tại ốp đèn xi nhan trước bên trái, ốp bên trái phần đầu của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 202.08, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 10, 11 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, mài sát nhựa, cao su, kim loại tại gương chiếu hậu và tay lái bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 249.02, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 7, 26 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết gãy vỡ, mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu đen tại phía dưới bên trái ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 202.08, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 15 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, mài sát cao su tại để chân trước và sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 249.02, có chiều hướng từ trước ra sau.
- Dấu vết mài sát sơn, nhựa, cao su, kim loại tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 249.02 gồm: Gương chiếu hậu, đầu tay nắm, đầu tay phanh, đề chân trước, đề chân sau, ống xả được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biến kiểm soát 98H1 - 249.02 đổ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường, đồng thời tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 2 trên hiện trường.
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C - 202.08 với xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 249.02 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2, thuộc chiều chuyển động bên phải theo hướng thành phố B đi thị trấn C.
Tại Bản kết luận giám định số 4778/KLGĐTT-TTPY ngày 05/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận:
- Khám ngoài: Vùng ngực có nhiều vết chợt da bầm tím. Gãy xương ức. Gãy xương sườn 2, 3, 4, 5 cung trước bên trái. Gãy xương sườn 2, 3, 4 cung trước bên phải. Gãy xương cánh tay trái.
- Khám trong: Ngực, bụng: Rạch da ngực, bụng kiểm tra thấy: Tụ máu dưới da và cơ vùng ngực trái kích thước (7x3)cm. Khoang màng phổi trái có 500ml máu màu đỏ không đông. Khoang màng phổi phải có 1500ml máu màu đỏ không đông. Phổi: Màu hồng. Phổi trái dính chặt vào thành ngực. Thùy trên phổi trái có vết rách kích thước (3x2)cm. Phổi phải không thấy tổn thương. Khoang màng tim có vết rách kích thước (8x4)cm, bờ mép bầm tụ máu. Tim: Màu nâu, cơ tim chắc, không thấy tổn thương. Kiểm tra cung động mạch chủ rách đứt lìa.
- Nguyên nhân chết: Chết do sốc mất máu không hồi phục do vết rách cung động mạch chủ, vết rách phổi do tai nạn giao thông.
- Thời gian chết cách thời điểm khám nghiệm dưới 6 giờ. Các thương tích ở mục kết quả chính qua giám định là nguyên nhân chính dẫn đến việc ông L tử vong. Cơ chế, chiều hướng, vật, lực gây nên thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng và lực tác động.
Tại Bản kết luận giám định số 734/998-999/24/KLGĐĐC-PYQG, ngày 11/11/2024 của V kết luận trong mẫu máu của ông Đặng Tiến L tìm thấy Ethanol với hàm lượng 49,08 mg/100ml, không tìm thấy M2 và các chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 2363/KL-KTHS ngày 07/11/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “MOVI7310.avi” dung lượng 450MB, thời lượng 03 phút 00 giây trong đĩa DVD-R gửi giám định.
- Trích xuất được 14 (mười bốn) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.
Tại kết luận định giá tài sản số 43/KL-ĐGTS ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị phần hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, biển kiểm soát 98H1-249.02, màu xanh- đen- bạc, có giá 1.128.000đồng.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 18/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố bị cáo Lương Đức M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố. Người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu lời luận tội đối với bị cáo. Giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Đức M 03 năm, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường D, thành phố B giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và tuyên án phí theo quy định.
Bị cáo, người đại diện của bị hại không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Một số người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền của họ có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đó của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định:
Mặt khách quan: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 01/11/2024, đoạn km76+400 thuộc thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Lương Đức M điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-202.08 đi trên Quốc lộ A theo hướng thị trấn C đi thành phố B do ngủ gật, không làm chủ được tay lái đã điều khiển xe ô tô sang phần đường bên trái theo chiều đi nên phần đầu xe bên trái xe ô tô của M đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 98H1-249.02 do ông Đặng Tiến L điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả ông Đặng Tiến L chết tại chỗ. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do, bị cáo không tuân thủ quy tắc khi tham gia giao thông, không đi đúng phần đường vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ.
Các yếu tố khác: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông và sức khỏe của công dân được pháp luật Hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý.
Khi tham gia giao thông, bị cáo sử dụng đồ uống có cồn, hơi thở có nồng độ cồn là 0,055mg/l. Đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi nêu trên của Lương Đức M đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
[4] Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà còn gây thiệt hại về tính mạng của công dân. Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này ra bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật, bị cáo có công việc và chỗ làm ổn định.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có thái độ ăn năn hối cải, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, có chỗ ở, công việc ổn định. Chỉ cần xử bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt, không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Những vật chứng đã được xử lý trong giai đoạn điều tra là phù hợp nên không đặt ra xem xét.
01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lương Đức M không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lương Đức M 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố B giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử lý vật chứng:
Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Lương Đức M.
Án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thân Văn Hiếu |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Có tội
