TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 20-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Văn Sanh
+ Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành, là Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Minh Q, tên gọi khác: không. Sinh ngày 19 tháng 11 năm 1980 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
Số CCCD: [...] cấp ngày 15/7/2022. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ học vấn: 5/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Hoàng Minh S (chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1951. Bị cáo có vợ tên Cao Thị N, sinh năm 1984. Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo Hoàng Minh Q có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Công K, tên gọi khác: không. Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1971 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Số CCCD: [...] cấp ngày 10/8/2021. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ học vấn: 6/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam.
Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Lê C (chết) và bà Nguyễn Thị Đ (chết). Bị cáo có vợ tên Trần Thị Thu P, sinh năm 1973. Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1999.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo Lê Công K có mặt tại phiên tòa.
3. Phan T, tên gọi khác: không. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1955 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Số CCCD: [...] cấp ngày 28/4/2021. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ học vấn: 5/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Phan M1 (chết) và bà Nguyễn Thị M (chết). Bị cáo có vợ tên Phạm Thị B, sinh năm 1955. Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1992.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo Phan T có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Quốc A, tên gọi khác: không. Sinh ngày 20 tháng 3 năm 1983 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Số CCCD: [...] cấp ngày 25/3/2022. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ học vấn: 8/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn K1 và bà Bùi Thị Kim H. Bị cáo có vợ tên Võ Thị Lệ H1, sinh năm 1985 (Đã ly hôn). Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2007
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 20/7/2022 bị công an huyện M xử phạt hành chính về hành vi “Gây thiệt hại đến tài sản của người khác”. Nguyễn Quốc A đã chấp hành quyết định trên.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo Nguyễn Quốc A có mặt tại phiên tòa.
5. Trịnh Công V, tên gọi khác: không. Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1986 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: 108/7 P, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Số CCCD: [...] cấp ngày 22/12/2021. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ học vấn: 12/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Trịnh S1 và bà Trương Thị C1. Bị cáo có vợ tên Trương Thị Xuân N1, sinh năm 1991. Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo Trịnh Công V có mặt tại phiên tòa.
6. Lê H2, tên gọi khác: không. Sinh ngày 20 tháng 01 năm 1963 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Tổ I, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Số CCCD: [...] cấp ngày 13/4/2021. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ học vấn: 9/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Lê M2 (chết) và bà Trần Thị X (chết). Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969. Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo Lê H2 có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 08/02/2024, Nguyễn Quốc A đang ở nhà của A thì Hoàng Minh Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76G1-024.98 đến nhà của Anh thăm chơi theo lời mời của Anh trước đó. Một lát sau, Trịnh Công V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59F1-789.89 cũng đến nhà của A thăm chơi. Anh cùng với Q và V ngồi nói chuyện được một lúc thì A gọi điện thoại cho Lê Công K và Phan T đến nhà Anh với mục đích rủ hai người này đến nhà của A để có thêm người đánh bài xì tố thắng thua bằng tiền thì K và T đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76G1-086.39 và T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76U9-5935 cùng đến nhà của A. Tại nhà của A thì V, Q, K và T cùng rủ nhau đánh bài xì tố thắng thua bằng tiền. Lúc này, A đi lấy bộ bài tây 52 lá có sẵn trong nhà của A và một cái mền màu hồng vàng trải xuống nền nhà ngay tại phòng khách rồi Anh lấy cái đĩa màu trắng trong nhà của A để lên cái mền cùng bộ bài tây 52 lá để cho những người này chơi đánh bài xì tố thắng thua bằng tiền. Ngoài ra, Anh còn lấy một cái lon màu xanh bằng kim loại ra để bên cạnh những người đang đánh bạc để người chơi bỏ tiền xâu vào lon để mua nước, thuốc lá và mua bài. Mỗi lần thắng thì những người chơi sẽ bỏ tiền xâu từ 10.000đ (mười nghìn đồng) đến 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) vào lon kim loại trên. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Lê H2 gọi điện thoại hỏi Anh “có ai không rủ làm tý” thì A rủ H2 đến nhà của Anh để đánh bạc thì H2 đồng ý. Được một lúc thì H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C-051.15 đến nhà của A. Khi vào nhà, H2 thấy một số người đang đánh bạc tại nhà của Anh gồm T, K, Q và V nên H2 vào tham gia đánh bạc cùng với những người này. Khi A thấy người chơi bỏ tiền vào lon được số tiền 70.000đ thì Anh lấy số tiền trên đi đến tiệm tạp hóa trong xóm để mua thuốc lá, nước và 04 (bốn) bộ bài tây để đem về phục vụ cho những người đang đánh bạc tại nhà của A. Trong lúc những người đánh bạc thì A ngồi ở bên cạnh xem những người này đánh bạc.
Các đối tượng thỏa thuận về việc đánh bạc như sau:
Những người chơi đánh bạc sử dụng bộ bài tây 52 lá do Nguyễn Quốc A chuẩn bị và chỉ lấy 28 lá bài gồm những lá bài từ 8 cho đến A. Sau đó những người chơi sẽ tự tay rút hai lá bài, trong đó lá bài đầu tiên sẽ được lật ngửa để xác định ai là người có lá bài lớn nhất sẽ được tố (cược tiền) đầu tiên với số tiền ít nhất là 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Sau khi người đầu tiên tố thì những người cược tiền theo người tố đầu tiên sẽ được rút lá bài thứ ba được lật ngửa để xác định người tố đầu tiên lượt thứ hai. Tiếp tục nếu lá bài thứ ba ai là người có lá bài lớn nhất sẽ là người tố đầu tiên với số tiền bằng hoặc lớn hơn số tiền ở lượt tố đầu tiên. Những người còn lại có quyền tố theo người tố đầu tiên hoặc có thể bỏ dừng chơi trong ván bài đó, nếu dừng chơi thì ngươi dừng chơi sẽ mất số tiền đã cược trước đó trong ván. Cứ như thế cho đến khi người chơi rút đủ năm lá bài thì người chơi nào có bài lớn nhất sẽ thắng toàn bộ số tiền tố ở tất cả các vòng. Đối với năm lá bài của mỗi người chơi thì sẽ được tính thắng thua theo thứ tự từ lớn đến nhỏ như sau:
- Tứ quý: gồm 4 quân bài giống nhau và một lá bất kỳ, người nào có 4 lá bài giống nhau lớn hơn tính từ 8 đến A sẽ thắng;
- Thùng phá sảnh: gồm 5 lá bài đồng chất liền kề nhau, người nào có 5 lá bài đồng chất liền kề nhau lớn hơn từ 8 đến A sẽ thắng;
- Thùng: gồm 5 lá bài đồng chất, người nào có 5 lá bài lớn nhất sẽ thắng tính từ 8 cho đến A;
- Sảnh: gồm 5 lá bài liên tiếp nhau 10-J-Q-K-A không đồng chất, nếu người chơi có 5 lá bài liên tiếp nhau như trên thì tính hòa nhau;
- Cù lũ: gồm 3 lá bài giống nhau và một đôi gồm hai lá bài giống nhau, người nào có 3 lá bài lớn hơn tính từ 8 đến A thì sẽ thắng;
- Sám cô: gồm 3 lá bài giống nhau và hai lá bài bất kỳ, người nào có 3 lá bài lớn hơn tính từ 8 đến A thì sẽ thắng;
- Hai đôi: gồm hai cặp lá bài giống nhau (đôi) và một lá bất kỳ, người nào có đôi lớn hơn tính từ 8 đến A thì người đó thắng, nếu người chơi có hai đôi bằng nhau thì người nào có lá bài còn lại lớn hơn tính từ 8 đến A thì sẽ thắng;
- Một đôi: gồm hai lá bài giống nhau (một đôi) và ba lá bài bất kỳ, người nào có đôi lớn hơn tính từ 8 đến A thì người đó thắng, nếu người chơi có một đôi bằng nhau thì trong ba lá bài còn lại người nào có lá bài lớn hơn tính từ 8 đến A thì sẽ thắng;
- Mậu thầu: gồm 5 lá bài khác nhau, không lập thành bộ như trên, người nào có lá bài lớn nhất theo thứ tự 8 đến A thì sẽ là người thắng.
Theo thỏa thuận giữa những người chơi đánh bạc thì mỗi người đánh bạc khi bắt đầu chơi sẽ bỏ ra số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để ở mỗi tụ (vị trí mỗi người chơi ngồi) để đánh bạc, trong quá trình đánh bạc nếu thua hết tiền trên
thì người chơi sẽ tiếp tục bỏ ra số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để tiếp tục đánh bạc. Nếu người nào thắng thì sẽ lấy toàn bộ số tiền thắng để vào tụ để tiếp tục đánh bạc, người chơi sẽ tố mỗi ván không được quá số tiền có trên tụ. Nếu hết tiền thì người chơi tiếp tục bỏ ra số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Riêng Lê H2 chỉ có số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) trong người nên những người đánh bạc thống nhất cho Lê H2 được bỏ ra số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) trên tụ của Lê H2 để tham gia đánh bạc.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi Lê H2, Hoàng Minh Q, Lê Công K, Phan T và Trịnh Công V đang đánh bạc tại nhà A thì bị Công an huyện M bắt quả tang, tạm giữ trên sòng bạc số tiền 7.910.000đ (bảy triệu chín trăm mười nghìn đồng), trong đó số tiền trên các tụ và tiền tố của từng bị can như sau: số tiền trên tụ của Hoàng Minh Q là 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang tố; số tiền trên tụ của Lê Công K là 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang tố; số tiền trên tụ của Lê H2 là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đang tố; số tiền trên tụ của Phan T là 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang tố; số tiền trên tụ của Trịnh Công V là 3.010.000đ (ba triệu không trăm mười nghìn đồng) và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang tố. Ngoài ra, trong lon kim loại đựng tiền xâu của Nguyễn Quốc A có số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định số tiền đánh bạc của từng bị can tham gia đánh bạc cũng như số tiền thắng thua tính đến thời điểm bị Công an huyện M bắt quả tang như sau:
- - Đối với bị cáo Trịnh Công V: Bị cáo V sử dụng số tiền 2.020.000đ (hai triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt quả tang, số tiền trên chiếu bạc của bị cáo V là 3.210.000đ (ba triệu hai trăm mười nghìn đồng) bao gồm số tiền 3.010.000đ (ba triệu không trăm mười nghìn đồng) trên tụ và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang tố. Do vậy, tính đến thời điểm bị bắt quả tang, bị cáo V thắng được số tiền 1.190.000đ (một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng), số tiền thắng này nằm trên sòng bạc tại vị trí tụ của V.
- - Đối với bị cáo Hoàng Minh Q: Bị cáo Q sử dụng số tiền 2.610.000đ (hai triệu sáu trăm mười nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt quả tang, số tiền trên chiếu bạc của bị cáo Q là 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) trên tụ và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang tố. Do vậy, tính đến thời điểm bị bắt quả tang, bị cáo Q thua số tiền 1.210.000đ (một triệu hai trăm mười nghìn đồng).
- - Đối với bị cáo Lê Công K: Bị cáo K sử dụng số tiền 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm bị C3 quả
tang, số tiền trên chiếu bạc của bị cáo K là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) trên tụ và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang tố. Do vậy, tính đến thời điểm bị bắt quả tang, bị cáo K thua số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng).
- - Đối với bị cáo Phan T: Bị cáo T sử dụng số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt quả tang, số tiền trên chiếu bạc của bị cáo T là 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) trên tụ và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang tố. Do vậy, tính đến thời điểm bị bắt quả tang, bị cáo T thắng được số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), số tiền thắng này nằm trên sòng bạc tại vị trí tụ của T.
- - Đối với bị cáo Lê H2: Bị cáo H2 sử dụng số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt quả tang, số tiền trên chiếu bạc của bị cáo H2 là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) trên tụ và 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đang tố. Do vậy, tính đến thời điểm bị Công an huyện bắt quả tang, bị cáo H2 thắng được số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), số tiền thắng này nằm trên sòng bạc tại vị trí tụ của H2.
Ngoài ra, quá trình bắt quả tang có thu giữ tiền trên người của các bị cáo gồm: Phan T số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); Trịnh Công V số tiền 4.980.000đ (Bốn triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng); Lê Công K số tiền 6.700.000đ (Sáu triệu bảy trăm nghìn đồng); Hoàng Minh Q số tiền 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Qua điều tra không có căn cứ xác định các bị cáo sẽ sử dụng số tiền trên vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không cộng số tiền của các bị cáo mang theo trong người vào tổng số tiền đánh bạc khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về tội Đánh bạc.
Đối với bị cáo Nguyễn Quốc A: Bị cáo A không tham gia đánh bạc nhưng Anh có hành vi rủ rê các bị can khác đến nhà do Anh quản lý, sử dụng và Anh cũng là người đã chuẩn bị các công cụ (bài tây, đĩa, mền,...) để các bị cáo Lê H2, Hoàng Minh Q, Lê Công K, Phan T và Trịnh Công V thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài xì tố thắng thua bằng tiền. Bị cáo A cùng các bị cáo khác không có thỏa thuận mỗi ván phải bỏ bao nhiêu tiền xâu, việc bỏ tiền xâu là do người chơi đánh bạc bỏ vào từ 10.000đ đến 20.000đ tùy theo mỗi ván thắng ít hay nhiều. Tổng số tiền thu xâu từ việc đánh bạc trên là 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng), bị cáo A đã lấy ra số tiền 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng) từ số tiền xâu trên để mua thuốc lá, nước uống và 04 (bốn) bộ bài tây để phục vụ cho việc đánh bạc. Số tiền xâu còn lại trong lon kim loại là 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) bị Công an huyện M lập biên bản tạm giữ.
Như vậy, tổng số tiền mà các bị cáo đánh bạc là 7.910.000đ (bảy triệu chín trăm mười nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 24/4/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi truy tố các bị cáo Hoàng Minh Q, Lê Công K, Phan T, Nguyễn Quốc A, Trịnh Công V, Lê H2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên tòa giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội đánh bạc.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Lê Công K hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Minh Q hình phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Phan T hình phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A hình phạt tiền từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Trịnh Công V hình phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm I, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Lê H2 hình phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và điều 106 BLTTHS
- - Tịch thu sung quỹ số tiền dùng đánh bạc là 7.910.000 đồng và số tiền 50.000 đồng tiền xâu thu giữ trong lon kim loại.
- - Trả lại 01 điện thoại hiệu Sam Sung cho Nguyễn Quốc A nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 28 lá; 04 bộ bài tây 52 lá; 01 dĩa màu trắng; 01 lon màu xanh bằng kim loại.
- - Trả lại cho các bị cáo số tiền 17.580.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo Trịnh Công V 01 điện thoại di động và 01 xe máy biển số 59F1-789.89
- - Trả lại cho bị cáo Lê Công K 01 điện thoại di động và 01 xe máy biển số 76G1-086.39 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo Hoàng Minh Q 01 điện thoại di động và 01 xe máy biển số 76G1-024.98 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo Lê H2 01 điện thoại di động nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo Phan T 01 điện thoại di động nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo H2, Q, T, V, A, Khai mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Hoàng Minh Q, Phan T, Lê Công K, Nguyễn Quốc A, Trịnh Công V, Lê H2, khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở, chứng cứ xác định:
Vào tối ngày 08/02/2024, bị cáo Nguyễn Quốc A đã rủ rê, sử dụng nhà của Anh làm địa điểm và chuẩn bị các công cụ cho các bị cáo Lê H2, Hoàng Minh Q, Lê Công K, Phan T và Trịnh Công V thực hiện hành vi đánh bạc. Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc tại thời điểm bắt quả tang là 7.910.000đ (bảy triệu chín trăm mười nghìn đồng).
Các bị cáo Lê H2, Hoàng Minh Q, Lê Công K, Phan T, Trịnh Công V và Nguyễn Quốc A là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng hiểu biết pháp luật. Các bị cáo biết rõ việc đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức là tệ nạn xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn làm ảnh hưởng xấu đến đời sống văn hoá, nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo đã tham gia đánh
bạc với số tiền đánh bạc trên 5.000.0000đồng nên đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, các bị cáo Lê H2, Hoàng Minh Q, Lê Công K, Phan T và Trịnh Công V, Nguyễn Quốc A đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiên trọng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Bị cáo Lê H2 được ban chấp hành Liên đoàn lao động tỉnh Q tặng bằng khen và bị cáo H2 có mẹ là bà Trần Thị X được tặng huân chương kháng chiến hạng ba nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lê Công K có cha là ông Lê C được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo Hoàng Minh Q có cha là ông Hoàng Minh S và mẹ là bà Nguyễn Thị M là thương binh, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo K, Q.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
[6] Đây là vụ án này có đồng phạm giữa các bị cáo nhưng mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có phương án, kế hoạch phạm tội cụ thể trước khi thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó bị cáo A là người rủ rê, giúp sức, các bị cáo còn lại là người thực hành.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số tiền các bị cáo đánh bạc là 7.910.000 đồng và số tiền 50.000 đồng tiền xâu thu giữ trong lon kim loại. Đây là số tiền có được từ việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 bộ bài tây 28 là; 04 bộ bài tây 52 lá; 01 dĩa màu trắng; 01 lon màu xanh bằng kim loại; 01 mền màu hồng vàng. Đây là công cụ dùng để thực hiện hành vi đánh bạc, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với tài liệu, đồ vật tạm giữ trên người các bị cáo, cụ thể:
- + Đối với Nguyễn Quốc A: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ 01 điện thoại hiệu Sam Sung trên người của Nguyễn Quốc A. Quá trình điều tra xác định bị cáo không sử dụng điện thoại này vào việc đánh bạc, do đó cần trả lại điện thoại cho bị cáo A nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- + Đối với Lê H2: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone. Quá trình điều tra xác định bị cáo không sử dụng điện thoại này vào việc đánh bạc, do đó cần trả lại điện thoại cho bị cáo H2 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Đối với Trịnh Công V: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ số tiền 4.980.000 đồng; 01 điện thoại di động và 01 xe máy biển số 59F1-789.89. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định điện thoại di động và xe máy là tài sản của công ty mà bị cáo làm việc, những tài sản trên do vợ bị cáo quản lý, không liên quan đến việc đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền 4.980.000 đồng tạm giữ trên người bị cáo, số tiền trên không dùng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm tạm giữ số tiền trên để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Đối với Lê Công K: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ số tiền 6.700.000 đồng; 01 điện thoại di động. Quá trình điều tra xác định bị cáo K không dùng những đồ vật trên vào việc đánh bạc, do đó cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Đối với Hoàng Minh Q: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ số tiền 3.400.000 đồng; 01 điện thoại di động và 01 xe máy biển số 76G1-024.98. Quá trình điều tra xác định bị cáo T không dùng những đồ vật trên vào việc đánh bạc, do đó cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo Lê H2 01 điện thoại di động nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Đối với Phan T: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ của Phan T số tiền 2.500.000 đồng; 01 điện thoại màu đen; 01 xe mô tô biển số 76U9-5935. Quá trình điều tra xác định bị cáo T không dùng những đồ vật trên vào việc đánh bạc, do đó cần trả lại cho bị cáo T nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
[10] Về căn cứ truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Về án phí: các bị cáo Lê H2, Phan T, Nguyễn Quốc A, Trịnh Công V; Hoàng Minh Q, Lê Công K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Phan T, Nguyễn Quốc A, Lê Công K, Hoàng Minh Q, Trịnh Công V, Lê H2 phạm tội “Đánh bạc”
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Công K 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Minh Q 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Công V 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm I, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê H2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước:
- + Số tiền 7.910.000 đồng (bảy triệu chín trăm mười nghìn đồng) và 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) tiền xâu thu giữ trong lon kim loại.
- Trả lại cho bị cáo Trịnh Công V:
- + 01 (một) điện thoại màu vàng đồng, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong (đã được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong có mã số “PS3A 105207”, bên ngoài bì niêm phong có đóng dấu của phòng K2 công an tỉnh Q, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên giám định viên Nguyễn Phương Đ1).
- + 01 (một) xe mô tô màu xanh, mang biển số 59F1-789.89, trên xe có dòng chữ “NOUVO”, xe đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây gồm 28 (hai mươi tám) lá bài; 04 (bốn) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) dĩa màu trắng, có đường kính là 10,5cm; 01 (một) lon màu xanh bằng kim loại, có đường kính là 11,5cm; 01 (một) mền màu hồng vàng.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.980.000 đồng (bốn triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) của Trịnh Công V để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng); 01 (một) xe mô tô màu vàng, mang biển số 76U9- 5935, trên xe có dòng chữ “Dream II”, xe đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 (một) điện thoại màu đen, trên điện thoại có dòng chữ “itel”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong (đã được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong có mã số “PS3A 105206”, bên ngoài bì niêm phong có đóng dấu của phòng K2 công an tỉnh Q, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên giám định viên Nguyễn Phương Đ1) của Phan T để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.700.000 đồng (sáu triệu bảy trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại màu hồng, trên điện thoại có dòng chữ “Iphone”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong (đã được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong có mã số “PS3A 105203”, bên ngoài bì niêm phong có đóng dấu của phòng K2 công an tỉnh Q, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên giám định viên Nguyễn Phương Đ1); 01 (một) điện thoại màu đen, trên điện thoại có dòng chữ “AI CAMERA”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong (đã được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong có mã số “PS3A 105202”, bên ngoài bì niêm phong có đóng dấu của phòng K2 công an tỉnh Q, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên giám định viên Nguyễn Phương Đ1) của Lê Công K để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Tiếp tục tạm giữ 01 (một) điện thoại màu vàng, trên điện thoại có dòng chữ “Iphone”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong (đã được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong có mã số “PS3A 105204”, bên ngoài bì niêm phong có đóng dấu của phòng K2 công an tỉnh Q, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên giám định viên Nguyễn Phương Đ1) của Lê H2 để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại màu xanh đen, trên điện thoại có dòng chữ “OPPO”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong (đã được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong có mã số “PS3A 105201”, bên ngoài bì niêm phong có đóng dấu của phòng K2 công an tỉnh Q, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên giám định viên Nguyễn Phương Đ1); 01 (một) xe mô tô màu đỏ bạc vàng, mang biển số 76G1-024.98, trên xe có dòng chữ “INTENSIVE”, xe đã qua sử dụng không kiểm tra tình trang bên trong của Hoàng Minh Q để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Tiếp tục tạm giữ 01 (một) điện thoại màu xanh, trên điện thoại có dòng chữ “SAMSUNG”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong (đã được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong có mã số “PS3A 105205”, bên ngoài bì niêm phong có đóng dấu của phòng K2 công an tỉnh Q, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên giám định viên Nguyễn Phương Đ1) của Nguyễn Quốc A để đảm bảo cho việc thi hành án.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc các bị cáo Phan T, Lê Công K, Nguyễn Quốc A, Hoàng Minh Q, Trịnh Công V, Lê H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015:
Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Minh Vương |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI về tội đánh bạc
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt
