|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 05 - 2024
"V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Diện
Ông Hoàng Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chử - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang và bà Nông Thị T - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Mai Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nông Thị Đ, sinh năm 1979; (vắng mặt)
- Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang
- - Bị đơn: Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1977; (vắng mặt)
- Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 26/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nông Thị Đ trình bày: Bà và ông Hoàng Văn V tự nguyện tìm hiểu và về chung sống với nhau từ năm 1998, có được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, tuy nhiên do thiếu hiểu biết pháp luật nên đến năm 2019 ông bà mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đến năm 2008 ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Vinh ham chơi cờ bạc và thường xuyên gây gổ đánh vợ dẫn đến tình cảm vợ chồng sứt mẻ, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và ông bà đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn gì, có níu kéo cũng không có hạnh phúc, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hoàng Văn V. Về con chung: vợ chồng có 02 con là cháu Hoàng Anh T1, sinh ngày 26/09/1999 và cháu Hoàng Ngọc Á, sinh ngày 13/8/2007. Cháu T1 đã đủ 18 tuổi nên bà Đ không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết. Khi ly hôn bà Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Á cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung: bà Đ không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệp tập ông Hoàng Văn V nhiều lần nhưng ông V không có mặt để tham gia tố tụng, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại các biên bản xác minh của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với trưởng thôn Đ; công chức tư pháp UBND xã Đ; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã Đ, anh Hoàng Anh T1 là con đẻ của bà Nông Thị Đ và ông Hoàng Văn V, Trưởng công an xã Đ phản ánh về tình trạng hôn nhân của bà Nông Thị Đ và ông Hoàng Văn V như sau: ông Hoàng Văn V và bà Nông Thị Đ tự nguyện tìm hiểu và về chung sống với nhau từ năm 1998, nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật nên đến năm 2019 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ theo quy định. Quá trình chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn từ năm 2008. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, ông V hay chơi bời, không tu chí làm ăn và hay ghen tuông, gia đình hai bên đã khuyên giải nhưng không khắc phục được. Ông V, bà Đ đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Ông V và bà Đ đều có hộ khẩu ở thôn Đ, xã Đ. Ông V là lao động tự do nên hay đi vắng, hiện không có ở nhà, không rõ đi đâu, làm gì. Về con chung, quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là Hoàng Anh T1, sinh ngày 26/09/1999 và Hoàng Ngọc Á, sinh ngày 13/8/2007. Cháu T1 hiện đã đủ 18 tuổi và đã lấy vợ, trường hợp vợ chồng ly hôn, nên giao cháu Hoàng Ngọc Á cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ có điều kiện chăm sóc tốt hơn, vì cháu là con gái hơn nữa bố cháu cũng không tu chí làm ăn.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Hoàng Ngọc Á sinh ngày 13/8/2007, cháu Á có nguyện vọng được ở với mẹ vì cháu là con gái và thích ở với mẹ hơn.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không đến tham gia tố tụng mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Nông Thị Đ được ly hôn ông Hoàng Văn V. Về con chung: quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là cháu Hoàng Anh T1, sinh ngày 26/09/1999 và Hoàng Ngọc Á, sinh ngày 13/8/2007. Cháu Hoàng Anh T1 đã đủ 18 tuổi nên không đề cập giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hoàng Ngọc Á cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: nguyên đơn là bà Nông Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là bà Nông Thị Đ có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn là ông Hoàng Văn V, ông Hoàng Văn V có nơi cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nông Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Hoàng Văn V vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nông Thị Đ và ông Hoàng Văn V.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nông Thị Đ và ông Hoàng Văn V xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2008 ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và tính cách. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay bà Nông Thị Đ có yêu cầu xin ly hôn ông Hoàng Văn V. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Nông Thị Đ được ly hôn ông Hoàng Văn V.
[4] Về việc nuôi con: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con là cháu Hoàng Anh T1, sinh ngày 26/09/1999 và cháu Hoàng Ngọc Á, sinh ngày 13/8/2007. Cháu Hoàng Anh T1 đã đủ 18 tuổi nên bà Đ không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn bà Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Ngọc Á cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, ông V không đến tham gia tố tụng và không trình bày ý kiến đề nghị giải quyết việc nuôi con; cháu Hoàng Anh T1 đã đủ 18 tuổi nên không đề cập giải quyết, cháu Hoàng Ngọc Á là con gái, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Mặt khác, tại các biên bản xác minh điều kiện nuôi con với người thân và chính quyền địa phương cung cấp trường hợp vợ chồng ly hôn nên giao cháu Hoàng Ngọc Á cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ có điều kiện chăm sóc tốt hơn. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Hoàng Ngọc Á cho bà Nông Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Bà Nông Thị Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, ông Hoàng Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về chia tài sản chung và công nợ chung: bà Nông Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí: nguyên đơn bà Nông Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nông Thị Đ được ly hôn ông Hoàng Văn V.
2. Về việc nuôi con: Vợ chồng có 02 con là cháu Hoàng Anh T1, sinh ngày 26/09/1999 và cháu Hoàng Ngọc Á, sinh ngày 13/8/2007. Cháu Hoàng Anh T1 đã đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Khi ly hôn bà Nông Thị Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hoàng Ngọc Á cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông Hoàng Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung bà Đ, ông V có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: bà Nông Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai số 0002032 ngày 26 tháng 12 năm 2023.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hải Hà |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Đ-V
