Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Như

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Ngọc Hải
  2. Ông Nguyễn Minh Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Như Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thu T, sinh năm 1978; Nơi ĐKNKTT: Số 26B đường T, phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Nơi ở hiện nay: Số 8/4 chung cư T, thôn Vĩnh Khê, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Đức C, sinh năm 1980; Nơi ĐKNKTT: Số 26B đường T, phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Hiện đang chấp hành án tại Đội 28 phân trại 3 Trại giam Xuân Nguyên, Bộ công an. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thu T trình bày: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C tổ chức cưới hỏi tự nguyện và sinh sống với nhau từ năm 2006, đến ngày 10/02/2009 vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, sau đó anh C bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên - Bộ Công an. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Đức C.

- Về con chung: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C có một con chung là cháu Phạm Trang A, sinh ngày 12/8/2006. Ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao con cho chị là người trực tiếp chăm sóc cho đến khi con trưởng thành, do anh C đang chấp hành án nên không đủ điều kiện để chăm sóc con. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh C tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị và anh C tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Phạm Đức C:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã lấy được lời khai của anh C hiện đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên – Bộ Công an về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thể hiện: Anh C thống nhất với chị T về việc đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Anh xác nhận, đến nay tình cảm vợ chồng không còn nên việc chị Trần Thu T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết xin ly hôn với anh. Quan điểm của anh đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết.

Về con chung: Anh C xác nhận vợ chồng có một con chung là cháu Phạm Trang A, sinh ngày 12/8/2006. Ly hôn, anh nhất trí đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T là người trực tiếp chăm sóc cho đến khi con trưởng thành, do anh C đang chấp hành án nên không đủ điều kiện để chăm sóc con. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Anh và chị T tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh và chị T tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 4 Điều 207; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thu T, xử chị T được ly hôn anh Phạm Đức C.Về con chung: Giao con Phạm Trang A, sinh ngày 12/8/2006 cho chị T là người trực tiếp chăm sóc cho đến khi con trưởng thành hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh C tự thỏa thuận nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị T và anh C tự thỏa thuận nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, bị đơn anh Phạm Đức C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C có tổ chức cưới hỏi trên cơ sở tự nguyện từ năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 10/02/2009 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến tháng năm 2020 anh C bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên – Bộ Công an từ đó vợ chồng càng xa cách. Xét mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên xử chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C được ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C có một con chung là cháu Phạm Trang A, sinh ngày 12/8/2006. Ly hôn chị T và anh C đều nhất trí giao con chung cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con trưởng thành hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Mặt khác, cháu Trang Anh cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét đây là sự tự nguyện của chị T, anh C và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chị T và anh C tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thu T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 4 Điều 207; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thu T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu T được ly hôn anh Phạm Đức C.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Trang A, sinh ngày 12/8/2006 cho chị Trần Thu T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc nuôi con chung của chị T được thực hiện cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  3. Về tài sản chung: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai ký hiệu: số 0002571 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thu T và anh Phạm Đức C (vắng mặt) tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hồng Bàng
  • - Chi cục THADS quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh Như

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Ngọc Hải

Nguyễn Minh Toàn

Trần Thị Quỳnh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Trần Thu Trang - Phạm Đức Cường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger