Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 19-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Trần Thị Mộng Lành. Chức vụ: Nguyên phó Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện An Biên.
  • - Bà Nguyễn Ngọc Duyên. Chức vụ: Chủ tịch Hội khuyến học huyện An Biên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày ngày 16 và 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh T; (tên gọi khác: Tuấn X), sinh ngày 21/11/1990; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957;

Tiền án: Ngày 16/6/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo bản án hình sự phúc thẩm số 138/2015/HS-PT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2016;

- Ngày 21/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 77/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt từ ngày 28/02/2021;

- Ngày 29/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 222/2019/HS-ST, chưa chấp hành án;

- Ngày 20/4/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 28/11/2023.

Tiền sự: Ngày 26/7/2022 Trưởng Công an thành phố R, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 10.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích và hủy hoại tài sản” theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 128/QĐ-XPHC, chưa nộp phạt;

Bị bắt, tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang từ ngày 28/11/2023 cho đến ngày 16/01/2024 cho bảo lĩnh tại ngoại; ngày 08/02/2024 bị bắt tạm giam đến ngày 12/3/2024 cho bảo lĩnh tại ngoại cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Tô Thanh V, sinh ngày 01/0/1989; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Tô Văn H, sinh năm 1970 và bà Trần Thị N1, sinh năm 1971;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 31/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án hình sự sơ thẩm số 26/2016/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác ngày 15/9/2019;

- Ngày 04/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST, chấp hành xong hình phạt từ ngày 05/02/2024;

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/02/2024 cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn L (tên gọi khác: B), sinh ngày 01/01/1996; Tại huyện C, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1979;

Vợ tên Lê Thị Bé N2, sinh năm 1990;

Tiền án: Ngày 24/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 61/2015/HS-ST và ngày 25/9/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em” theo bản án hình sự phúc thẩm số 251/2015/HS-PT. Ngày 04/11/2015 Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tổng hợp hình phạt 02 bản án buộc phải chấp hành hình phạt là 02 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2018;

Tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang từ ngày 26/4/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Trần Trí L1, sinh ngày 01/01/1995; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần Văn D1, sinh năm 1963 và bà Hà Thị Ú, sinh năm 1967;

Vợ tên Trương Thị Hồng T2, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm năm 2016;

Tiền án: Ngày 07/12/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 336/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2021;

Tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang từ ngày 26/4/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Đào Văn K (tên gọi khác: Tính B1), sinh ngày 06/6/2005; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp H Xáng I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Đào Văn Ú1, sinh năm 1983 và bà Võ Thị T3;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang từ ngày 26/4/2023 cho đến ngày 25/9/2023 cho bảo lĩnh tại ngoại; ngày 06/11/2023 bị bắt tạm giam đến ngày 28/12/2023 cho bảo lĩnh tại ngoại cho đến nay

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

6. Trương Văn T4, sinh ngày 10/11/1996; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trương Văn T5, sinh năm 1983 và bà Võ Thị T3;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang từ ngày 28/12/2023 cho đến ngày 06/02/2024 cho bảo lĩnh tại ngoại cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

7. Trần P (tên gọi khác: Phát Nô), sinh ngày 16/8/2002; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần T6 và bà Đinh Thị S;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang từ ngày 26/4/2023 cho đến ngày 14/9/2023 cho bảo lĩnh tại ngoại; ngày 06/11/2023 bị bắt tạm giam đến ngày 28/12/2023 cho bảo lĩnh tại ngoại cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp bị cáo Đào Văn K: Ông Đào Văn Ú1, sinh năm 1983. Là cha ruột bị cáo K (có mặt).

Trú tại: Ấp H X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Người bào chữa cho bị cáo Đào Văn K: Luật sư Trần Hữu P1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K.

Người bị hại: Anh Trần Văn V1 (tên gọi khác là Vũ N3), sinh năm 1996 (có mặt).

Trú tại: Ấp R, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Danh Thị H1, sinh năm 2000 (có mặt).

Trú tại: Ấp R, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Anh Trần Nguyễn, sinh năm 1984 (có mặt).

Trú tại: Khu phố E, T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ, ngày 03/6/2022 Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô, loại xe SATRIA, màu xanh, không rõ biển số chạy từ thành phố R đến Rạch S, thuộc tỉnh Kiên Giang rủ Nguyễn Văn L xuống huyện A, tỉnh Kiên Giang tìm Trần Văn V1 để chém gây thương tích thì L đồng ý. Sau khi gặp Nguyễn Văn L thì T đưa xe cho L điều khiển chở T và mang theo 01 cây dao tự chế, dài khoảng 60cm chạy xuống nhà trọ K1 thuộc ấp X, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Sau khi xuống đến địa bàn thuộc huyện A Tuấn bàn bạc và thống nhất với Tô Thanh V, Nguyễn Văn L, Đào Văn K, Trần P, Trần Trí L1, Trương Văn T4 đi tìm Trần Văn V2 để chém, T điện thoại cho Lê Văn L2 (tên gọi khác C) nhờ L2 điện thoại hẹn V1 đi ra đầu vườn cao và L2 điện thoại hẹn Trần Văn V1 đến điểm hẹn. Đến khoảng 03 giờ sáng L điều khiển xe SATRIA, màu xanh chở T, Trần P điều khiển xe của mình chở Tô Thanh V (trên tay cầm cây dao tự chế, loại kiếm N dài khoảng 80cm), Trần Trí L1 (trên tay cầm cây dao tự chế màu trắng dài khoảng 60cm), Đào Văn K điều khiển xe WINER (xe của T4) chở Trương Văn T4 trên tay T4 cầm cây dao tự chế dài khoảng 80cm (hung khí của K đưa). Sau đó các đối tượng chạy đến đoạn đường thuộc ấp X, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì không gặp Trần Văn V1. Khi đến nơi T điện thoại cho L2 xin số điện thoại của Trần Văn V1, T đưa điện thoại cho L để điện thoại hẹn Trần Văn V1 ra đầu vườn cao có công việc thì Trần Văn V1 đồng ý. Khoảng 10 phút sau thì Trần Văn V1 điều khiển xe biển kiểm soát 68B1-445.49 chạy tới ngay chân cầu thuộc ấp R, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang, lúc này các đối tượng nhìn thấy V1 đã đến điểm hẹn đứng đợi. Khi thấy V1 đang ngồi trên xe thì K trên tay cầm cây dao tự chế chạy ra đứng phía sau chém trúng vào vai phải của Trần Văn V1 một cái, V1 bỏ chạy hướng về nhà khoảng 20 mét bị té ngã, T đuổi theo trên tay cầm cây dao tự chế chém V1 nhiều cái trúng vào cẳng tay phải, cẳng tay trái, gối trái, cẳng chân trái, cẳng chân phải, bàn chân phải gây thương tích.

Sau khi gây án xong, L điều khiển xe loại xe SATRIA chở T chạy về Rạch G, trên đường đi đến cầu C, T quăng cây dao xuống sông C. Trần P điều khiển xe loại xe EXCITER chở V và L1 trên đường đi về V, L1 quăng bỏ cây dao trên đoạn đường về, T4 điều khiển xe loại xe WINER chở K trên đường về Khiếu quăng bỏ cây dao trên đoạn đường đi về. Sau đó Trần Văn V1 được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K điều trị cho đến ngày 11/6/2022 thì xuất viện.

* Vật chứng của vụ án: Sau khi gây án xong trên đường về các bị cáo đã bỏ hung khí trên đường chạy về. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm hung khí nhưng không tìm gặp.

* Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 272/KLTTCT-PY ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận đối với thương tích của Trần Văn V1 như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định:

  • + Vết thương vai phải thấu khớp cùng vai phải đứt cơ delta đã được phẩu thuật khâu cơ delta, hiện khớp vai phải vận động bình thường.
  • + Vết thương cẳng tay trái, gãy hở đầu dưới 2 xương cẳng tay, đứt gân duỗi ngón cái dài, ngắn, dạng ngón cái dài, gân duỗi cổ tay quay dài, ngắn, duỗi chung các ngón, duỗi ngón út, duỗi cổ tay trụ đã được phẩu thuật kết hợp xương, khâu nối gân. Hiện tại xương chưa liền, cứng khớp cổ tay trái.
  • + Vết thương gối trái gãy hở phức tạp xương bánh chè trái, đứt dây chẳng cánh bên ngoài, đứt 1 phận dãi chậu chày đã được phẫu thuật kết hợp xương bánh chè bằng 2 chỉ thép, đứt dây chẳng cánh bên ngoài, đứt 1 phận dãi chậu chày đã được phẫu thuật kết hợp xương bánh chè bằng 2 chỉ thép. Hiện tại xương chưa liền còn chỉ kết hợp xương, hạn chế vận động khớp gối trái.
  • + Vết thương cẳng chân trái gãy hở xương mác 01 mảnh rời, đứt gân cơ chày trước, duỗi ngón cái, duỗi các ngón, gân cơ mác dài, mác ngắn, đứt phần kinh mác sâu đã được phẫu thuật kết hợp xương, khâu gân cơ, khâu thần kinh. Hiện tại xương chưa liền, còn dụng cụ kết hợp xương, dẫn truyền thần kinh mác sâu bình thường.
  • + Vết thương bàn chân phải kích thước 3x2cm, bờ sắc gọn thám sát thấy gãy hở xương đốt gần ngón I, đứt gân duỗi ngón I đã được phẫu thuật kết hợp xương. Hiện tại xương chưa liền, còn dụng cụ kết hợp xương, cứng khớp ngón I chân phải.
  • + Sẹo phần mềm vùng cẳng tay phải và cẳng chân phải.

- Kết quả cận lâm sáng:

  • + Gãy (đứt) đầu dưới 2 xương cẳng tay trái, xương chưa liền.
  • + Gãy xương bánh chè trái, xương chưa liền còn chỉ kết hợp xương.
  • + Gãy xương mác, Xương chưa liền, còn dụng cụ kết hợp xương.
  • + Gãy xương đốt gần ngón I, xương chưa liền, còn dụng cụ kết hợp xương.

- Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể thời điểm giám định là: 59% (Năm mươi chín phần trăm).

- Vật gây thương tích là vật sắc.

* Tại Kết luận số 16/KLGĐĐT-PY ngày 04/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận, tai thời điểm giám định ngày 03/6/2022, Đào Văn K có độ tuổi là 17 năm đến 17 năm 06 tháng tuổi.

* Tại bản Cáo trạng số: 02/CTr-VKS-AB, ngày 18/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T (T), Tô Thanh V, Nguyễn Văn L (B), Trần Chí L3, Đào Văn K (T), Trương Văn T4, Trần P (P) về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T (T), Đào Văn K (T), Nguyễn Văn L (B), Trần Chí L3, Tô Thanh V, Trương Văn T4 và Trần P (Phát Nô) về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt đề nghị:

- Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 09 (Chín) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 222/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đối với Trần Chí L3: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Chí L3, mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.

- Đối với Nguyễn Văn L: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L, mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.

- Đối với Tô Thanh V: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Tô Thanh V, mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.

- Đối với Đào Văn K: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 54; Điều 17, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Văn K, mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù.

- Đối với Trương Văn T4: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trương Văn T4, mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù.

- Đối với Trần P: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần P, mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù.

- Về biện pháp tư pháp: Các cây dao tự chế các bị cáo dùng để gây án các bị cáo đã bỏ hung khí trên đường chạy về. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm hung khí nhưng không tìm gặp. Đối với các điện thoại và xe mô tô các đối tượng dùng vào việc phạm tội thì sau khi gây án các bị can đã bán và làm mất nên cơ quan điều tra không tiến hành tịch thu được.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại.

- Người đại diện hợp pháp bị cáo bị cáo Đào Văn K là ông Đào Văn Úl ý kiến: Xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K, gia đình ông xin sẽ tiếp tục khắc phục hậu quả cho bị hại V1.

- Người bào chữa cho bị cáo Đào Văn K trình bày bào chữa: Thống nhất tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo Đào Văn K như bản cáo trạng đã truy tố. Thống nhất tình tiết giảm nhẹ như Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo K. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, khi bị cáo phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, dù gia đình bị cáo rất khó khăn về kinh tế nhưng đã cố gắng khắc phục hậu quả cho bị hại thể hiện thiện chí của bị cáo và gia đình bị cáo đối với bị hại. Tại phiên tòa, bị hại V1 cũng xin xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo mức án 12 (Mười hai) tháng tù cũng đủ nghiêm.

- Bị hại Trần Văn V1 ý kiến: Xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và thống nhất bồi thường như đã thỏa thuận.

- Người có quyền lời, nghĩa vụ liên quan Danh Thị H1 và Trần Nguyễn : Không ý kiến, yêu cầu gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 01 giờ ngày 03/6/2022 Nguyễn Thanh T điều khiển xe từ thành phố R, tỉnh Kiên Giang xuống huyện A rủ Nguyễn Văn L để chém Trần Văn V1. Sau đó, T chạy xuống gặp Nguyễn Văn L và T mang theo 01 cây dao tự chế, dài khoảng 60cm chạy xuống nhà trọ Kim P2 gặp Tô Thanh V. Sau đó T điện thoại cho Lê Văn L2 nhờ L2 điện thoại hẹn V1 đi ra đầu vườn cao chờ. Đến khoảng 14 giờ L điều khiển xe trên chở T, Trần P điều khiển xe trên chở Tô Thanh V trên tay cầm cây dao tự chế, loại kiếm N4 dài khoảng 80cm Trần Trí L1 trên tay cầm cây dao tự chế màu trắng dài khoảng 60cm, Đào Văn K điều khiển xe mô tô chở Trương Văn T4, trên tay T4 cầm cây dao tự chế dài khoảng 80cm. Sau đó cả nhóm chạy đến điểm hẹn thấy V1 đang ngồi trên xe đợi. Lúc này, K trên tay cầm cây dao tự chế chạy ra đứng phía sau chém trúng vai phải của Trần Văn V1 một cái, V1 bỏ chạy hướng về nhà khoảng 20 mét bị té ngã, T đuổi theo trên tay cầm cây dao tự chế chém trúng Trần Văn V1 nhiều cái trúng vào cẳng tay phải, cẳng tay trái, gối trái, cẳng chân trái, cẳng chân phải, bàn chân phải gây thương tích. Tại bản kết luận thương tích kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Văn V1 do thương tích gây nên là 59% (Năm Mươi chín phần trăm). Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T (T), Đào Văn K (T), Nguyễn Văn L (B), Trần Chí L3, Tô Thanh V, Trương Văn T4 và Trần P (P) phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm là dao tự chế tác động vào cơ thể của bị hại sẽ gây thương tích nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, hậu quả bị hại bị thiệt hại sức khỏe 59%. Hành vi của các bị cáo đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe bị hại và làm mất an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, cần xét xử các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để tuyên xử mức án phù hợp. Các bị cáo thành khẩn khai khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường trên 50% chi phí theo thỏa thuận với bị hại V1 và bị hại cũng có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi với vai trò đồng phạm, cùng thực hiện hành vi phạm tội nên cùng chịu trách nhiệm về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau: Bị cáo Nguyễn Thanh T với vai trò cầm đầu, khởi xướng, chủ động rủ các bị cáo còn lại thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời bị cáo cũng chính là người trực tiếp gây thương tích cho bị nên chịu trách nhiệm đầu vụ; bị cáo Đào Văn K trực tiếp gây thương tích cho bị hại, các bị cáo Tô Thanh V3, Nguyễn Văn L và Trần Chí L3 giúp sức tích cực cho bị cáo T và K gây thương tích cho bị hại nên chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm phạm tội, bị cáo Trương Văn T4 và Trần P chờ ngoài xe sau khi các bị cáo còn lại gây án xong để tẩu thoát nên cùng chịu trách nhiệm trong vụ án.

Đối với Lê Văn L2 qua làm việc L2 không biết T nhờ L2 điện thoại hẹn V3 ra để gây thương tích cho bị hại nên không xem xét xử lý.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn L và Trần Chí L3 phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Tô Thanh V, Đào Văn K, Trương Văn T4 và Trần P không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bị cáo Tô Thanh V có nhân thân xấu.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải, đã bồi thường trên 50% thiệt hại cho người bị hại, đồng thời người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo. Do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thanh T và Đào Văn K thuộc diện gia đình có công cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.

Bị cáo Tô Thanh V đầu thú hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.

Đối với bị cáo Đào Văn K phạm tội khi chưa thành niên nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự để xem xét hình phạt đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T chưa chấp hành hình phạt 09 (Chín) tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 222/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nên áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính nhất, hành vi xét xử mức án tương xứng để đảm bảo răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại, các bị cáo bồi thường cho bị hại tổng cộng số tiền 215.000.000 đồng. Các bị cáo đã liên đới bồi thường được 108.000.000 đồng (Trong đó: Bị cáo Nguyễn Thanh T 35.000.000 đồng; bị cáo Trần P 30.000.000 đồng; bị cáo Trương Văn T4 17.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn L 6.000.000 đồng; bị cáo Trần Chí L3 6.000.000 đồng; bị cáo Tô Thanh V 6.000.000 đồng; bị cáo Đào Văn K 8.000.000 đồng).

Buộc các bị cáo và người giám hộ của bị cáo Đào Văn K là Đào Văn Úl có trách nhiệm liên đối tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 107.000.000 đồng cho bị hại Trần Văn V1.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Danh Thị H1 và Trần P đều không yêu cầu gì nên miễn xét.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T (T), Đào Văn K (T), Nguyễn Văn L (B), Trần Chí L3, Tô Thanh V, Trương Văn T4 và Trần P (P) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T, 04 (Bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt 09 (Chín) tháng tù của Bản án số: 222/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành 02 bản án là 04 (Bốn) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ bị cáo chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 28/11/2023 đến ngày 16/01/2024 và từ ngày 08/02/2024 đến ngày 12/3/2024.

    - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 91; Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

    Xử phạt bị cáo Đào Văn K, 02 (Hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ bị cáo chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 25/9/2023 và từ ngày 06/11/2023 đến ngày 28/12/2023.

    - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L, 03 (Ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 26/4/2023.

    - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

    Xử phạt bị cáo Trần Chí L3, 03 (Ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 26/4/2023.

    - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

    Xử phạt bị cáo Tô Thanh V, 03 (Ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

    - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

    Xử phạt bị cáo Trương Văn T4, 02 (Hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ bị cáo chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 28/12/2023 cho đến ngày 06/02/2024.

    - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Xử phạt bị cáo Trần P, 02 (Hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ bị cáo chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 14/9/2023 và từ ngày 06/11/2023 đến ngày 28/12/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo Nguyễn Thanh T, Đào Văn K, Nguyễn Văn L, Trần Chí L3, Tô Thanh V, Trương Văn T4; Trần P, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đào Văn K là ông Đào Văn Ú1 và bị hại Trần Văn V1: Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Đào Văn K, Nguyễn Văn L, Trần Chí L3, Tô Thanh V, Trương Văn T4; Trần P, đại diện hợp pháp của bị cáo Đào Văn K là Đào Văn Úl có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Trần Văn V1 tổng số tiền 215.000.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu đồng). Các bị cáo và ông Úl đã bồi thường được số tiền 108.000.000 đồng (Một trăm lẻ tám triệu đồng). Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh T, Đào Văn K, Nguyễn Văn L, Trần Chí L3, Tô Thanh V, Trương Văn T4; Trần P và ông Đào Văn Ú1 có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền còn lại cho bị hại Trần Văn V1 là 107.000. 000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa bồi thường đủ số tiền nêu trên thì còn phải trả lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  3. Về án phí:

    Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh T (T), Đào Văn K (T), Nguyễn Văn L (B), Trần Chí L3, Tô Thanh V, Trương Văn T4 và Trần P (Phát Nô), mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo:

    Các bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp bị cáo K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang
  • - VKSND huyện An Biên, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - THA Dân sự, Hình sự;
  • - NTG; Công an huyện An Biên;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng (Dương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trần Mộng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự)

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger