|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG ——————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 19/2024/DS-ST Ngày 19 tháng 4 năm 2024 Về việc tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Hoa Hường và bà Ngô Thị Lệ Thi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-DS ngày 26/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Lương Thị Hải Y, sinh năm 1984, địa chỉ nơi cư trú: Tổ B, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang;
Đại diện theo ủy quyền của bà Y: Bà Nguyễn Huỳnh C, sinh năm 1999 và bà Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1997; địa chỉ liên hệ: Nguyễn Trường T1, phường C, thành phố C, An Giang.
Bị đơn: Ông Lý Văn D, sinh năm 1950 và bà Dương Thị L, sinh năm 1967, cùng địa chỉ nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (Nhà nghỉ T3);
Người làm chứng: ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1983, địa chỉ nơi cư trú: Tổ B, khóm C, phường C B, thành phố C;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà với vợ chồng ông Lý Văn D, bà Dương Thị L, có mối quan hệ quen biết nhau từ trước, vào khoảng tháng 6/2023, ông D, bà L cần vốn để làm ăn, nên có hỏi bà Y vay số tiền
2
450.000.000 (Bốn trăm năm mươi triệu) đồng, thời hạn vay 03 (ba) tháng, thỏa thuận lãi suất 1,67%/tháng. Vì chỗ quen biết, nên bà Y cho vợ chồng ông D, bà L vay tiền; ông Lý Văn D và bà Dương Thị L đã nhận đủ tiền theo “Giấy nhận nợ” đề ngày 17/6/2023. Khi đến hạn trả nợ gốc ngày 17/9/2023, bà Y có đến gặp ông D, bà L để yêu cầu trả vốn gốc theo thỏa thuận, thì ông D, bà L viện lý do làm ăn thua lỗ, nên chưa có tiền trả nợ. Sau đó, bà nhiều lần liên hệ nhưng phía ông D, bà L vẫn không trả vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Nay, bà Y khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Lý Văn D và bà Dương Thị L liên đới trách nhiệm trả số tiền 450.000.000 (Bốn trăm năm mươi triệu) đồng và lãi suất theo quy định pháp luật.
Bị đơn ông D, bà L cùng cho rằng: Có vay tiền của Y nhiều lần, do đóng lãi cao, nên có yêu cầu Tòa án bớt lại tiền lãi 100.000.000 đồng; có xem xét việc vay tiền của vợ chồng Y-T2 là do ông D vay, còn bà L không có tham gia, nên có yêu cầu vợ chồng Y-T2 cho thời gian trả số tiền 350.000.000 đồng như đã bớt lãi 100.000.000 đồng đúng như thỏa thuận và ghi trong giấy nhận nợ là sau khi bán nhà được ngày nào trả ngày đó;
Tòa án tiến hành hòa giải và công khai tài liệu chứng cứ nhưng các đương sự không thống nhất nên hòa giải không thành.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn, đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông D, bà L liên đới trách nhiệm trả vốn vay 450.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 17/6/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ; Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là tờ “Giấy nhận tiền” đề ngày 17/6/2023; xác định không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ.
Bị đơn, ông Lý Văn D: Thừa nhận có vay của bà Y số tiền 450.000.000 đồng; theo thỏa thuận giấy nhận nợ ngày 17/6/2023. Tuy nhiên, ông D cho rằng khi nào bán nhà được mới trả tiền cho bà Y; yêu cầu khấu trừ lãi đã đóng trước đó với số tiền 175.000.000 đồng;
Bà L trình bày: Việc vay tiền là do ông D vay, bà chỉ nhận của ông D 50.000.000 đồng tại ngày vay và ký vào giấy nhận tiền ngày 17/6/2023, đồng ý khi bán được nhà bà sẽ trả cho ông D 50.000.000 đồng để ông D trả cho bà Y; yêu cầu khấu trừ lãi đã đóng trước ngày 17/6/2023.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
3
+ Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền vốn gốc 450.000.000 đồng, lãi 10%/năm kể từ ngày ngày 17/6/2023 cho đến khi thanh toán dứt nợ. Xét thấy, nội dung “Giấy nhận tiền” đề ngày 17/6/2023 thể hiện ông D, bà L có mượn của bà Y 450.000.000 đồng, thời hạn 03 tháng (17/6/2023-17/9/2023). Đồng thòi việc ông D có ghi thêm trên giấy nhận nợ: “Nếu đến ngày 17/9/2023 không trả đủ thì cho đến khi bán nhà được ngày nào trả ngày đó” điều đó, ông D cam kết nghĩa vụ trả nợ nhằm tạo niềm tin cho bà Y. Thế nhưng từ ngày 17/6/2023 đến nay, ông D, bà L không trả vốn và lãi cho bà Y. Từ đó, có cơ sở xác định ông D, bà L vay 450.000.000 đồng và vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Cho nên, bà Y khởi kiện yêu cầu ông D, bà L trả vốn và lãi suất theo quy định 10%/năm tính từ ngày 17/6/2023 là có căn cứ.
Đối với việc bà L thừa nhận cùng ông D tên vào“Giấy nhận tiền” đề ngày 17/6/2023, nhưng cho rằng không liên quan đến khoản vay, không có thỏa thuận vay nợ của bà Y, không được bà Y thừa nhận nên không có cơ sở xem xét. Đồng thời, bà L cho rằng bà Y cho vay nặng lãi, trước đây nhiều lần vay tiền của bà Y tổng số tiền lãi đã đóng 175.000.000 đồng nên có yêu cầu giảm, trừ vào khoản vay 450.000.000 đồng. Nhưng lời khai của bà L không được bà Y thừa nhận và số tiền lãi đã đóng theo lời trình bày của bà L là không liên quan đến khoản vay 450.000.000 đồng. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án ban hành văn bản yêu cầu ông D, bà L cung cấp chứng cứ nhưng ông D, bà L không thực hiện, ngoài lời khai không còn căn cứ khác để xem xét;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông D, bà L có nghĩa vụ trả bà Y số tiền vốn vay 450.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật (10%/năm) tính từ ngày 17/6/2023.
Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng,
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản”, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thời hiệu khởi kiện, theo quy định tại khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc”. Đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện nên không xem xét.
4
Về nội dung,
[3] Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Tại hợp đồng vay tiền theo “Giấy nhận tiền” đề ngày 17/6/2023 đã thể hiện ký tên, ghi họ tên bên người mượn là Dương Thị L và Lý Văn D; trong quá trình tố tụng, ông D, bà L cùng thừa nhận chữ ký tên, ghi họ tên trên “Giấy nhận tiền” đề ngày 17/6/2023 là của ông, bà. Như vậy, ông D, bà L đã ký thỏa thuận vay tiền số tiền 450.000.000 đồng của bà Y và hoàn toàn biết nghĩa vụ trả nợ vay của mình theo hợp đồng đã ký kết. Tuy nhiên, ông D cho rằng, bà L chỉ vay số tiền 50.000.000 đồng, trong số tiền 450.000.000 đồng, nhưng đây là lời khai, không được bà Y thừa nhận và ông D, bà L cũng không có chứng cứ để chứng minh, nên không có đủ cơ sở xem xét.
Đối với việc, ông D, bà L cùng cho rằng đã vay của vợ chồng Y-T nhiều lần trước đó, do đóng lãi cao, nên yêu cầu được trừ lại số tiền đã đóng lãi; điều này chứng tỏa rằng ông D, bà L cùng vay tiền của bà Y là có thỏa thuận tiền lãi, mặt dù theo “Giấy nhận tiền” đề ngày 17/6/2023 không ghi thỏa thuận về lãi. Tuy hợp đồng vay tiền, không có công chứng chứng thực, nhưng trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, các bên thống nhất khoản tiền đã vay. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Tòa án đã thông báo 09/2023/TB-TA ngày 09/01/2024 về việc yêu cầu cung cấp lời khai và tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho ý kiến trình bày của mình nhưng ông D, bà L không cung cấp. Ngoài ra, các văn bản mà ông D bà L đã gửi Tòa án không thống nhất nhau về số tiền đã đóng lãi (trong cùng một ngày lúc thì 175.000.000 đồng; lúc thì 100.000.000 đồng). Hơn nữa, số tiền mà ông D, bà L cho rằng đã đóng lãi, hoàn toàn không liên quan đến khoản vay 450.000.000 đồng của bà Y. Do đó, việc khấu trừ lãi vào vốn gốc đã vay là không có cơ sở để xem xét.
Xét về yêu cầu tính lãi của bà Y, thấy rằng: “Giấy nhận nợ” ngày 17/6/2023, thể hiện số tiền vay 450.000.000 đồng, tuy không thể hiện lãi suất thỏa thuận, nhưng các bên có tranh chấp về lãi suất, nên đây là hợp đồng vay có lãi;. Tại Điều 468 Bộ luật dân sự quy định: “...Trường hợp các bên có thỏa thuận lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự tại thời điểm trả nợ...”. Do đó, bà Y yêu cầu tính lãi theo quy định (10%/năm) tính kể từ ngày 17/6/2023 là có căn cứ pháp luật, nên được chấp nhận.
Đối với việc ông D cho rằng có thỏa thuận khi nào bán nhà được ngày nào, sẽ trả tiền cho bà Y ngày đó. Xét thấy, tại phiên tòa, ông D thừa nhận trước khi vay tiền ngày 17/6/2023 đến thời điểm hiện tại không có tài sản nhà gắn liền nên đất, nên đây chỉ làm tin để bà Y cho vay tiền như quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ.
Đối với việc ông D yêu cầu Tòa án kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra xem xét xử lý về cho vay lãi nặng và xem xét khấu trừ lãi. Thấy rằng, Tòa án đã ban hành Thông báo số 08/TB-TA ngày 22/01/2024 về cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh nhưng ông D, bà L không thực hiện. Hơn nữa, vụ việc ông D cho
5
rằng cho vay lãi nặng là những khoản vay trước ngày 17/6/2023 hoàn toàn không liên quan đến khoản vay 450.000.000 đồng của bà Y nên không có cơ sở để xem xét trong vụ án này.p
Tại giấy “Giấy nhận tiền” đề ngày 17/6/2023 thể hiện ông D, bà L có mượn của bà Y 450.000.000 đồng, thời hạn 03 tháng (17/6/2023-17/9/2023), kể từ ngày ông D, bà L nhận tiền vay đến nay không trả vốn và lãi, là đã vi phạm nghĩa vụ trả vốn và lãi. Từ đó, yêu cầu khởi kiện của bà Y là có căn cứ, Hội đồng xét xử thống nhất buộc ông D, bà L cùng nghĩa vụ liên đới trả nợ vay cho bà Y, cụ thể:
- Vốn gốc 450.000.000 đồng;
- Lãi 450.000.000 đồng x 10%/năm (từ ngày 17/6/2023 đến ngày 19/4/2024) số tiền là: 37.599.000 đồng;
Tổng cộng ông D, bà L cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Y số tiền và lãi là 487.599.000 (Bốn trăm, tám mươi bảy triệu, năm trăm, chín mươi chín ngàn) đồng;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm
Bị đơn ông Lý Văn D, bà Dương Thị L có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Nguyên đơn bà Lương Thị Hải Y được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.
[3] Quyền kháng cáo
Các đương sự có quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Hải Y: Buộc ông Lý Văn D và bà Dương Thị L có nghĩa vụ liên đới trả bà Y số tiền 487.599.000 (Bốn trăm, tám mươi bảy triệu, năm trăm, chín mươi chín ngàn) đồng;
6
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (bà Y) được chấp nhận, nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà Y số tiền 11.000.000 (mười triệu) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003037 ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc.
Ông Lý Văn D và bà Dương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 23.504.000 (Hai mươi ba triệu năm trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
3. Quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Đức |
Bản án số 19/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 19/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
