Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 19/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 18/9/2024

"V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Thanh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Quốc Hưng và bà Lê Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST-DS ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: anh Phạm Văn H, sinh năm: 1984; nơi cư trú: thôn C, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  • * Bị đơn: chị Bùi Thị H1, sinh năm: 1986; nơi cư trú: thôn C, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt lần 2 (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 07/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 11/9/2024 nguyên đơn anh Phạm Văn H trình bày:

- Về tình cảm: anh H và chị Bùi Thị H1 chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND xã V, thành phố M trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống có hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H1 nghi ngờ anh H có quan hệ ngoại tình vô căn cứ nên chửi bởi, sỉ nhục anh H trong thời gian dài, ngoài ra anh chị còn có bất đồng quan điểm trong việc quản lý tài sản chung, cuộc sống chung thường xuyên xảy ra cãi vã nên anh mong muốn được giải thoát và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H1.

- Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 03 (ba) con chung là Phạm Trung Đ sinh ngày 02/7/2006; Phạm Anh T sinh ngày 06/12/2009 và Phạm Gia Hiếu sinh ngày 27/11/2020. Tại bản tự khai ngày 20/6/2024 anh H có quan điểm nhường quyền nuôi các con chung cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), việc cấp dưỡng nuôi con chung không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 11/9/2024 anh H có quan điểm con lớn Phạm Trung Đ sinh ngày 02/7/2006 đã đủ tuổi thành niên anh không có đề nghị gì; anh H đề nghị được nuôi dưỡng con chung Phạm Anh T sinh ngày 06/12/2009 đến tuổi thành niên, còn chị H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Gia H2 đến tuổi thành niên, việc cấp dưỡng không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: anh H không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về khoản nợ chung: anh H trình bày không có.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Bùi Thị H1 có quan điểm như sau:

- Tại bản tự khai ngày 20/6/2024 chị H1 trình bày: chị và anh H chung sống với nhau từ năm 2006 có đăng ký kết hôn năm 2007 tại UBND xã V, đến năm 2022 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh H đi ngoại tình, hiện tại anh chị chung sống dưới một mái nhà nhưng không ai còn quan tâm đến ai, chị đồng ý ly hôn. Về con chung: có 03 con chung như anh H trình bày là đúng, chị đề nghị được nuôi dưỡng cả 3 con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi 03 con chung với số tiền 3.000.000đ/con/tháng vì chị khó khăn về kinh tế thu nhập không ổn định lại bị bệnh hiểm nghèo. Về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận, về khoản nợ chung anh chị không có.

- Tại bản tự khai ngày 01/7/2024 chị H1 có quan điểm thay đổi về việc nuôi con chung như sau: nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 3 con chung cho anh H vì anh H có công việc ổn định.

Quá trình giải quyết vụ án anh H đã cung cấp các chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm: trích lục kết hôn (01 bản sao); căn cước công dân (02 bản sao); giấy khai sinh (03 bản sao); đơn trình bày (01 bản chính); vận đơn (01 bản chính).

Bị đơn chị H1 đã được tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ chứng minh về việc bị bệnh hiểm nghèo nhưng hết thời hạn chị H1 vẫn không cung cấp được chứng cứ gì cho Tòa án.

Chứng cứ do Tòa án Móng Cái thu thập là: biên bản xác minh tại chính quyền địa phương ngày 15/8/2024 xác minh thực trạng cuộc sống vợ chồng anh chị H- H1 tại địa phương.

Tại phiên tòa hôm nay chị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như quá trình giải quyết vụ án đã trình bày.

Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử nghị án:

+ Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng qui định của pháp luật;

+ Về tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành chưa đảm bảo quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phạm Văn H về việc: "tranh chấp ly hôn, nuôi con".

+ Về tình cảm: xử cho anh Phạm Văn H được ly hôn với chị Bùi Thị H1.

+ Về con chung: giao con chung Phạm Anh T sinh ngày 06/12/2009 cho anh Phạm Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), giao con chung Phạm Gia Hiếu sinh ngày 27/11/2020 cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), việc cấp dưỡng nuôi con chung anh H không đề nghị giải quyết nên không xem xét. Đối với con Phạm Trung Đ sinh ngày 02/7/2006 đã đủ tuổi thành niên anh H không có đề nghị gì nên không xem xét.

+ Về tài sản chung: các đương sự đều có quan điểm tự thỏa thuận và về khoản nợ chung: các bên đều trình bày không có nên không xét.

Chị H1 đã được thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cả 3 lần nhưng đều vắng mặt nên các đương sự không thống nhất được toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

1.1. Xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: anh Phạm Văn H và chị Bùi Thị H1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố M năm 2007 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo đầy đủ các điều kiện kết hôn theo qui định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, do vậy khi anh H có yêu cầu ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Bùi Thị H1 cư trú tại thôn C, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền của giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Về xác định tư cách tố tụng: anh H là người làm đơn khởi kiện nên có tư cách là “nguyên đơn”, chị H1 là người bị khởi kiện nên có tư cách là “bị đơn” theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.3. Về thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã ra thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ nhưng bị đơn chị Bùi Thị H1 đều vắng mặt không đến Tòa án hòa giải theo quy định, do đó Tòa án chỉ mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ đối với nguyên đơn và không hòa giải được.

1.4. Về việc triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với nguyên đơn, bị đơn đến tham gia phiên Tòa; nguyên đơn anh H có đơn xin xét xử vắng mặt còn bị đơn chị H1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn theo khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Văn H thấy:

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định:

- Về tình cảm: anh H, chị H1 chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn từ năm 2007 tại ủy ban nhân dân xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H1 ghen tuông chửi bới xúc phạm anh H thậm tệ. Chính quyền địa phương cũng xác nhận tại biên bản xác minh ngày 15/8/2024 như sau: vài tháng trở lại đây chị H1 nghi ngờ anh H có quan hệ ngoại tình nhưng chưa bắt được quả tang, chị H1 thường xuyên chửi bới, xúc phạm anh H nên vợ chồng có xảy ra xô xát đánh, cãi chửi nhau đến mức chính quyền địa phương có can thiệp hòa giải nhưng chỉ được vài ngày anh chị lại cãi chửi nhau. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh H, xử cho anh được ly hôn với chị H1.

- Về con chung: cả nguyên đơn, bị đơn đều trình bày quá trình chung sống anh chị có 03 (ba) con chung là Phạm Trung Đ sinh ngày 02/7/2006; Phạm Anh T sinh ngày 06/12/2009 và Phạm Gia Hiếu sinh ngày 27/11/2020. Đối với con lớn đã đủ tuổi thành niên và anh H không có đề nghị gì nên HĐXX không đề cập. Đối với 02 con chung Phạm Anh T và Phạm Gia H2 anh H có quan điểm đề nghị mỗi người nuôi dưỡng 01 con chung và anh có quan điểm nuôi con Phạm Anh T; chị H1 có quan điểm nhường quyền nuôi dưỡng cả 2 con chung cho anh H nhưng không đề cập nghĩa vụ cấp dưỡng. Xét thấy chị H1 khai có mắc bệnh hiểm nghèo nhưng không cung cấp chứng cứ cho Tòa án mặc dù đã được yêu cầu cung cấp chứng cứ; do đó lời khai của chị H1 không có căn cứ; mặt khác cả anh H, chị H1 đều không có công việc, thu nhập ổn định nên cần giao mỗi người nuôi dưỡng một con chung là phù hợp. Căn cứ nguyện vọng của cháu T về việc muốn anh H trực tiếp nuôi dưỡng nên cần giao con chung Phạm Anh T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Phạm Gia H2 cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng các đương sự tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đề cập.

- Về tài sản chung các đương sự trình bày tự thỏa thuận và khoản nợ chung các đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: nguyên đơn anh Phạm Văn H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phạm Văn H về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” .

  1. Về tình cảm: xử cho anh Phạm Văn H được ly hôn với chị Bùi Thị H1.

  2. Về con chung: giao con chung Phạm Anh T sinh ngày 06/12/2009 cho anh Phạm Văn H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), giao con chung Phạm Gia Hiếu sinh ngày 27/11/2020 cho chị Bùi Thị H1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở. Con chung Phạm Trung Đ sinh ngày 02/7/2006 đã đủ tuổi thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

    Buộc anh Phạm Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) anh H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, theo biên lai thu tiền số 0003158 ngày 10/6/2024. Anh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

  3. Về quyền kháng nghị: căn cứ Điều 278; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

    Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;

  • - VKSND thành phố;

  • - Thi hành án dân sự;

  • - Đương sự;

  • - UBND xã Vạn Ninh, tp Móng Cái;

  • - Án văn+ Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thanh Phương

CÁC THÀNH VIÊN HĐXX

Hội thẩm nhân dân

Phạm Quốc Hưng

Lê Thanh Nhàn

TM.HĐXX SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ - ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Phạm Văn H- Bùi Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger