Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 19/2023/HS-ST

Ngày 17 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Như Điệu; Ông Nguyễn Trần Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tôn - Kiểm sát viên.

Ngày 17/11/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 01/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HS ngày 06/11/2023 đối với bị cáo:

Ngô Văn N, sinh năm 1989 tại tỉnh Bắc Ninh.

HKTT: Khu phố Nghè, phường Đồng Kỵ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Tiến L, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966; Có vợ Vũ Thị Quỳnh A, sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2022;

Tiền sự: Không.

Tiền án có 01: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 115/2017/HSST ngày 17/5/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Ngô Văn N 28 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 01/02/2019 N chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 19/6/2023, N chấp hành phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng.

Nhân thân:

  • + Ngày 24/5/2007, Công an huyện T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Ngô Văn N bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Không tố giác tội phạm”.
  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/2020/HSST ngày 09/3/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Ngô Văn N 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 12/10/2020 N chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).

Người tham gia tố tụng khác: Bà Nguyễn Hoàng A1 – Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 12/6/2023 tại nhà anh Lưu Xuân G ở khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh do Ngô Văn N thuê, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường T, thành phố T bắt quả tang Ngô Văn N có hành vi bán trái phép 02 túi ma túy cho người thanh niên tự khai tên Trần Minh C, sinh năm 1990 ở khu phố M, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh với giá 300.000 đồng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Vật chứng thu giữ:

  • - Trần Minh C tự giác giao nộp 02 túi nilon màu trắng, gồm 01 túi chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1. C khai nhận đó là ma túy “đá” và ma túy “ngựa” của C vừa mua được của N với giá 300.000 đồng; 01 mảnh giấy màu trắng có ghi các chữ và số “GL20835815, UB22645923, OP20110497” là số seri của các tờ tiền mà C dùng để mua ma túy, C ghi lại để mua vé xổ số ngày 12/6/2023.
  • - Ngô Văn N tự giác giao nộp từ túi quần bên phải phía trước N đang mặc 01 hộp nhựa màu trắng bên trong chứa 30 túi nilon màu trắng, cụ thể: 01 túi chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng; 02 túi bên trong mỗi túi đều chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng; 05 túi bên trong mỗi túi đều chứa 03 viên nén hình tròn màu hồng; 07 túi bên trong mỗi túi đều chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng; 15 túi bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2. Số tiền 300.000 đồng, gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri là GL20835815, 02 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ có số seri là UB22645923, 01 tờ có số seri là OP20110497.

Ngày 12/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Văn N tại khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả khám xét thu giữ tại nền phòng bếp ở tầng 1 có 10 túi nilon màu trắng, 01 ống nhựa màu trắng có chiều dài 10cm, 01 bật lửa ga màu đỏ. N khai nhận đây là những dụng cụ N sử dụng để chia nhỏ ma túy ra bán kiếm lời.

Trên cơ sở quyết định Quyết định trưng cầu giám định số 227 ngày 12/6/2023 của Cơ quan điều tra Công an thành phố T. Ngày 14/6/2023, phòng K Công an tỉnh B ra bản Kết luận giám định số 1249/KL-KTHS kết luận tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 5,3009 gam chất Methampetamine, cụ thể:

  • + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0105 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0836 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng 3,0900 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + Các viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng 2,1168 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine”

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Ngô Văn N khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bản thân và nguồn gốc số ma túy như sau:

Ngô Văn N thuê nhà trọ của anh Lưu Xuân G tại khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh từ tháng 5/2023. Do N không có công việc và thu nhập nên đã nảy sinh ý định mua ma túy “đá” và ma túy “ngựa” về bán lại kiếm lời. Sáng ngày 12/6/2023, N đi bộ từ nhà trọ đến khu vực bến xe bus gần Trung tâm y tế thành phố T mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi nilon ma túy gồm 01 túi chứa ma túy “đá” dạng tinh thể màu trắng và 01 túi chứa tổng số 36 viên nén hình tròn màu hồng với giá 2.000.000 đồng. N mang 02 túi ma túy mua được đi về nhà trọ. Tại đây N dùng ống nhựa màu trắng hình tròn dài 10cm, các túi nilon màu trắng N mua từ trước để chia số ma túy “đá” ra thành 16 gói nhỏ rồi dùng bật lửa ga màu đỏ để hàn mép của các túi nilon chứa ma túy “đá” lại. Tiếp đến, Nam chia số ma túy dạng viên nén hình tròn màu hồng vào 16 túi nilon màu trắng, gồm 01 túi bên trong chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng, 03 túi bên trong mỗi túi đều chứa 01 viển nén hình tròn màu hồng, 05 túi bên trong mỗi túi đều chứa 03 viên nén hình tròn màu hồng, 07 túi bên trong mỗi túi đều chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng. N cho tất cả số ma túy vừa chia được vào 01 chiếc hộp nhựa màu trắng có kích thước (9x6x3)cm rồi cất giấu tại túi quần phía trước bên phải N đang mặc mục đích để bán kiếm lời. N dự định bán 01 viên ma túy “ngựa” với giá 100.000 đồng và 01 túi ma túy “đá” với giá 200.000 đồng. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày 12/6/2023, khi N đang ở trong phòng trọ của mình. Trong phòng lúc này có anh Nguyễn Viết H là bạn của N đến chơi thì có 02 nam thanh niên tự khai là Trần Minh C và anh Lê Xuân H1 vào. Tại đây, người thanh niên tên C hỏi mua của N 300.000 đồng tiền ma túy “đá” và ma túy “ngựa”. N đồng ý và đưa cho C 02 túi nilon màu trắng, gồm 01 túi chứa ma túy “đá” và 01 túi chứa 01 viên ma túy “ngựa” dạng viên nén hình tròn màu hồng. C cầm 02 túi nilon ma túy N đưa cho rồi đưa lại cho N số tiền 300.000 đồng. N cầm tiền mà C đưa cho. Đúng lúc này lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Ngoài ra, N còn khai nhận đã mua ma túy “đá”, ma túy “ngựa” và đã sử dụng vào tối ngày 11/6/2023.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 193/CT-VKSTS ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố Ngô Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Ngô Văn N khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định số ma túy đã thu giữ, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Việc mua bán ma túy, chia ma túy thì bạn bị cáo là anh Nguyễn Viết H và chủ nhà cho thuê phòng trọ anh Lưu Xuân G không biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Văn N từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2023. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng thu nộp ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 10 túi nilon màu trắng, 01 ống nhựa màu trắng hình tròn, 01 hộp nhựa màu trắng, 01 bật lửa ga màu đỏ. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng. Tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 mảnh giấy ghi số seri là GL20835815, UB22645923 và OP20110497.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
  2. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện rõ: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/6/2023, tại nhà trọ do Ngô Văn N thuê tại khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, N đã có hành vi bán 02 túi nilon ma túy chứa 0,0941 gam Methamphetamine cho đối tượng tự khai là Trần Minh C thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Ngoài ra, N còn tàng trữ 5,2068 gam Methamphetamine nhằm mục đích để bán kiếm lời. Do vậy, hành vi của bị cáo Ngô Văn N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạm vào điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân; nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời, nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố T. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
  4. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 24/5/2007 bị Công an huyện T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Không tố giác tội phạm”; Ngày 09/3/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
    Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì ngày 17/5/2017, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 28 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2019, nhưng đến ngày 19/6/2023 mới chấp hành xong hình phạt bổ sung nên tính đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích, xác định là tiền án. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo. Nhưng khi lượng hình cần xem xét sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
    Ngoài hình phạt chính, cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước vì bị cáo phạm tội với mục đích thu lời bất chính mới đủ sức răn đe phòng ngừa chung.
  5. Về vật chứng: Số vật chứng của vụ án chưa xử lý, nay xử lý như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
  6. Liên quan trong vụ án này còn có 02 người đàn ông đã bán ma túy cho N tại khu vực bến xe buýt thành phố T vào tối ngày 11/6/2023 và sáng ngày 12/6/2023. Quá trình điều tra, chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể những người đàn ông này là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
    Đối với nam thanh niên tự khai họ tên Trần Minh C đã có hành vi mua và tàng trữ 02 túi nilon ma túy có tổng khối lượng 0,0941 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi bị lực lượng công an bắt quả tang, đưa về trụ sở để làm việc, lợi dụng sơ hở của cán bộ trông giữ, C đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm, xác minh tại địa chỉ theo lời khai của đối tượng nhưng xác định ở địa bàn khu phố M, phường H, thành phố T không có đối tượng nào có họ tên, tuổi như C đã khai nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
    Đối với anh Nguyễn Viết H là bạn của N và anh Lê Xuân H1 là người đi cùng C đến phòng trọ của N. Anh H không biết N cất giấu ma túy, anh H1 không biết C đến phòng trọ của N mua ma túy. Chỉ đến khi N và C mua bán ma túy với nhau các anh mới biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý với anh H, anh H1 là phù hợp.
    Đối với hành vi sử dụng chất ma túy của Ngô Văn N vào tối ngày 11/6/2023. Ngày 22/8/2023, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với N bằng hình thức “Cảnh cáo” là phù hợp.
    Đối với anh Lưu Xuân G là người đã cho N thuê nhà, tuy nhiên anh G không biết việc N cất giấu và bán ma túy tại nhà anh cho N thuê. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh G là phù hợp.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Ngô Văn N 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 triệu đồng (năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam số 18/2023/HSST-QĐTG ngày 17/11/2023 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh K. (Mặt trước có ghi chữ: “...Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Ngô Văn N...”; 10 túi nilon màu trắng, 01 ống nhựa màu trắng hình tròn, 01 hộp nhựa màu trắng, 01 bật lửa ga màu đỏ.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng N1 theo 01 giấy nộp tiền số 9708675 đề ngày 25/10/2023 của Ngân hàng TMCP C1.

Tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 mảnh giấy ghi số seri là GL20835815, UB22645923 và OP20110497.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND/VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo;
  • - Chi cục THA thành phố Từ Sơn (HLPL);
  • - Người TGTT;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger