trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 19/2024/DS-ST

Ngày: 17 - 5 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

cầm cố tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Ninh và ông Đỗ Cao Thế

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Mỹ Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-DS ngày 26/3/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH S,

    Địa chỉ: A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An,

    Đại diện theo pháp luật: ông Prart J; Giám đốc,

    Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Chính L, sinh năm 1996; địa chỉ: C T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; theo Giấy ủy quyền số 06-01/2023/UQ-SVN ngày 13/6/2023 của Công ty TNHH S; có mặt.

  2. Bị đơn: bà Ngô Thị H, sinh năm 1980;

    Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1978;

    Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30/11/2023, các bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa xét xử vụ án, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn Công ty TNHH S – ông Trần Chính L trình bày:

Vào ngày 05/07/2023, giữa bà Ngô Thị H và Chi nhánh Q 1 của Công ty S, tại địa chỉ: C T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình có ký kết hợp đồng cầm cố tài sản số: GNM230701002NA21X ngày 05/07/2023, số đăng ký Giao dịch Đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục Đ: Giaodichdambao/botuphap: 1514545459 theo web: https://dktructuyen.moj.gov.vn/ Nội dung hợp đồng thể hiện: bà Ngô Thị H cầm cố tài sản 01 xe môtô hai bánh BKS 73G1-327.69; loại xe HONDA – SHMODE, màu: Xanh Đen, số khung RLHJK0105MZ018444 - Số máy JK01E0165381; Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 004270 do Công an huyện Q cấp ngày 10/08/2021 mang tên bà Ngô Thị H; để vay số tiền là 34.100.000 đồng (Ba mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng); thời hạn cầm cố 12 tháng (từ 05/07/2023 - 05/07/2024), với mức lãi suất là 1,1%/ tháng.

Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên giữa Công ty và bà Ngô Thị H ký giấy Giấy mượn xe ngày 07/5/2023, theo đó thỏa thuận giữa hai bên: bà H mượn xe từ 05/07/2023 đến 05/08/2023 bà H phải trả lại xe cho Công ty, địa điểm trả xe là tại chi nhánh Q. Bà Ngô Thị H có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận". Phí bảo dưỡng và hao mòn xe trong thời gian mượn xe, kể cả sau thời gian mượn xe bà H không trả xe thì bà H vẫn phải chịu phí này là 1.023.000 đồng (3,5%/tháng).

Theo hợp đồng Cầm cố và Giấy mượn xe như trên, phía Công ty đã thực hiện giải ngân đầy đủ số tiền cho bà H cũng như giao lại xe cho bà H mượn sử dụng. Tuy nhiên, quá trình trả nợ bà Ngô Thị H mới thanh toán được 3.828.000 đồng (gốc: 755.000 đồng và lãi: 3.073.000 + phí ). Bà H bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 06/08/2023 đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm (17/05/2024) là 09 tháng 12 ngày, không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty như thỏa thuận.

Công ty đã tạo rất nhiều điều kiện về thời gian để bà Ngô Thị H trả lại tiền hoặc tài sản là xe máy đã cầm cố cho Công ty, nhưng bà Ngô Thị H không thực hiện và có biểu hiện trốn tránh. Vì vậy, Công ty TNHH S quyết định khởi kiện bà Ngô Thị H, buộc bà H trả lại xe, trả lại tiền gốc, lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng cầm cố và Giấy mượn xe. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn Công ty TNHH S rút các yêu cầu khởi kiện sau:

  • + Yêu cầu về buộc bà Ngô Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả lại chiếc xe môtô hai bánh biển số: 73G1-327.69, Loại xe: HONDA - SHMODE, Số khung: RLHJK0105MZ018444, Số máy: JK01E0165381, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh Q- Công ty TNHH S số GNM230701002NA21X ngày 05/07/2023.
  • + Yêu cầu về việc buộc bà H phải chịu trả khoản Phí bảo dưỡng và hao mòn xe theo Giấy mượn xe.

Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà Ngô Thị H trả nợ tạm tính đến ngày 17/5/2024 là 36.792.000 đồng (trong đó gốc: 33.345.000 đồng; lãi: 3.447.000 đồng (1.1%/ tháng). Ngoài ra kể từ ngày 18/05/2024, bà Ngô Thị H còn phải tiếp tục chịu lãi suất (1.1%/ tháng) phát sinh trên số nợ gốc chưa trả cho đến khi thanh toán xong nợ.

Bị đơn bà Ngô Thị H trình bày tại bản tự khai ngày 28/02/2024:

Ngày 05/7/2023, bà H có ký Hợp đồng cầm cố tài sản với Công ty TNHH S để vay số tiền 34.100.000 đồng, thời hạn cầm cố 12 tháng. Tài sản cầm cố cho công ty TNHH S là chiếc xe máy hai bánh mang BKS 73G1-327.69. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã trả được một ít nợ, hiện nay còn nợ công ty TNHH S số tiền: 33.345.000 đồng tiền nợ gốc và lãi phát sinh. Bà H đề nghị Công ty S tạo điều kiện cho phía bà H đến tháng 7/2024 bà H sẽ trả hết nợ gốc và lãi.

Tòa án đã tổ chức các buổi hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án nhưng tất cả các buổi làm việc bà H đều vắng mặt nên việc hòa giải không thực hiện được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Người tham gia tố tụng chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 116, 119, 309, 310, 311, 314 và 468 Bộ luật dân sự đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Ngô Thị H có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH S số tiền tính đến ngày 17/5/2024 là 33.345.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Kể từ ngày 18/5/2024, bà Ngô Thị H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi trên số nợ gốc chưa trả theo thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố, cho đến khi trả nợ xong.

Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện mà phía nguyên đơn đã rút tại phiên tòa;

Tuyên buộc chịu nghĩa vụ về án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: vụ án tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản do nguyên đơn Công ty TNHH S có trụ sở chính tại Việt Nam, đăng ký hoạt động kinh doanh tại Việt Nam; bị đơn là bà Ngô Thị H, nơi thường trú tại thôn C, xã H, huyện Q; Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn nhiều lần nhưng bà H không đến Tòa án để giải quyết. Do đó Tòa án đã xác minh, tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập đúng theo quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa hôm nay bà H vẫn vắng mặt đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Văn V, chồng bà H được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bởi thời điểm bà H cầm cố tài sản chiếc xe mô tô là trong thời kỳ hôn nhân với ông V. Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần, xác minh ông V vẫn có mặt tại địa phương, niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông V, tại phiên tòa hôm nay ông V vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Ngô Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Ngô Thị H thanh toán cho Công ty TNHH S1 đến ngày 17/5/2024 số tiền: 36.792.000 đồng (trong đó gốc: 33.345.000 đồng; lãi: 3.447.000 đồng (1.1%/ tháng) theo hợp đồng cầm cố tài sản số: GNM230701002NA21X ngày 05/07/2023 được ký kết giữa công ty TNHH S và bà Ngô Thị H.

Xét về tính hợp pháp và hiệu lực của hợp đồng cầm cố: Về chủ thể ký kết, các bên đều có năng lực hành vi dân sự, có ý chí tự nguyện thỏa thuận và ký kết. Về hình thức hợp đồng đúng theo quy định của Bộ luật dân sự. Mục đích của hợp đồng cầm cố không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117, 118 119 Bộ luật dân sự; Về nội dung hợp đồng: các bên thỏa thuận lãi suất 1.1% là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Vì vậy, Hợp đồng cầm cố GNM230701002NA21X ngày 05/07/2023 được ký kết giữa công ty TNHH S và bà Ngô Thị H là hợp pháp và có hiệu lực thực hiện kể từ ngày ký kết, các bên phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản đã cam kết.

Trong quá trình thực hiện, phía Công ty TNHH S đã thực hiện đúng nghĩa vụ, giải ngân cho bà H 34.100.000 đồng, bà H đã thừa nhận nhận đủ số tiền này, và đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm bà H mới trả được cho Công ty số tiền 3.828.000 đồng (gốc: 755.000 đồng và lãi: 3.073.000 + phí) là vi phạm thời hạn thanh toán được các bên thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng. Vì vậy, phía Công ty khởi kiện yêu cầu bà H trả nợ gốc còn lại, lãi phát sinh là có cơ sở. Cần buộc bà H phải trả nợ gốc còn lại và lãi phát sinh theo Hợp đồng cầm cố cho Công ty TNHH S.

Đối với khoản lãi suất quá hạn, từ khi khởi kiện phía Công ty S2 không yêu cầu, chỉ yêu cầu đối với phần lãi suất 1.1%/tháng. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét đối với khoản lãi quá hạn này theo hợp đồng cầm cố.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, phía nguyên đơn công ty TNHH S rút 02 yêu cầu khởi kiện:

  • + Buộc bà Ngô Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả lại chiếc xe môtô hai bánh biển số: 73G1-327.69, Loại xe: HONDA - SHMODE, Số khung: RLHJK0105MZ018444, Số máy: JK01E0165381, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh Q- Công ty TNHH S số GNM230701002NA21X ngày 05/07/2023.
  • + Buộc bà H phải chịu trả khoản Phí bảo dưỡng và hao mòn xe theo Giấy mượn xe.

Hội đồng xét xử nhận thấy việc nguyên đơn rút các yêu cầu khởi kiện trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ Điều 244 BLTTDS để đình chỉ xét xử.

Đối với giấy tờ xe Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 004270 do Công an huyện Q cấp ngày 10/08/2021 mang tên bà Ngô Thị H, phía Công ty thừa nhận đang giữ. Ngay sau khi bà H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty có trách nhiệm giao trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy cho bà H là phù hợp hợp đồng cầm cố và quy định tại khoản 4 Điều 313 Bộ luật dân sự.

[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bà Ngô Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; 228; Điều 244; Điều 266; Điều 269; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự. Các Điều 116, 117, 118 119, 309, 310, khoản 4 Điều 313 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S. Buộc bà Ngô Thị H phải trả cho Công ty TNHH S1 đến ngày 17/5/2024 số tiền: 36.792.000 đồng (trong đó gốc: 33.345.000 đồng; lãi: 3.447.000 đồng (1.1%/ tháng). Kể từ ngày 18/5/2024, bà Ngô Thị H còn phải chịu lãi suất phát sinh đối với phần nợ gốc chưa trả cho đến khi trả nợ xong theo Hợp đồng cầm cố tài sản số: GNM230701002NA21X ngày 05/07/2023 được ký kết giữa Công ty TNHH S và bà Ngô Thị H.

    Ngay sau khi bà H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty TNHH S có trách nhiệm giao trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 004270 do Công an huyện Q cấp ngày 10/08/2021 mang tên bà Ngô Thị H.

  2. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Ngô Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả lại chiếc xe môtô hai bánh biển số: 73G1-327.69, Loại xe: HONDA - SHMODE, Số khung: RLHJK0105MZ018444, Số máy: JK01E0165381, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh Q- Công ty TNHH S số GNM230701002NA21X ngày 05/07/2023. Và yêu cầu về việc buộc bà H phải chịu trả khoản Phí bảo dưỡng và hao mòn xe theo Giấy mượn xe ký ngày 05/7/2023 giữa Công ty TNHH S và bà Ngô Thị H.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Ngô Thị H phải nộp 1.839.600 đồng (Một triệu, tám trăm ba mươi chín nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Công ty TNHH S được nhận lại 970.000 đồng (Chín trăm bảy mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003767 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 19/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH Srisawad Việt Nam khởi kiện yêu cầu Ngô Thị Hoa trả tiền gốc và lãi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger